Bản tin

Sử Dụng Bù Phơi Sáng

Bù phơi sáng là điều chỉnh độ sáng của ảnh như được máy ảnh đo cho phù hợp với ưu tiên của nhiếp ảnh gia. Bất kể máy ảnh tốt tới đâu, nó sẽ không hoàn hảo và độ sáng đo được sẽ không nhất thiết trở nên như ta quan sát thấy. (Người trình bày: Ryosuke Takahashi)   Nắm vững máy ảnh của bạn để đạt được hoàn thiện bạn muốn Bù phơi sáng có nghĩa là điều chỉnh độ sáng mà máy ảnh tính toán cho phù hợp với ưu tiên của nhiếp ảnh gia. Mức bù được quyết định dựa trên lượng ánh sáng mà đối tượng phản xạ. Do đó, máy ảnh có xu hướng giảm mức bù khi chụp các đối tượng có nhiều màu sáng, cho rằng các đối tượng đó quá sáng. Ngược lại, nó có xu hướng tăng mức bù khi đối tượng có nhiều màu đen, cho rằng đối tượng quá tối. Như vậy, bù phơi sáng là một chức năng được sử dụng để điều chỉnh mức bù khi chức năng tự động điều chỉnh phơi sáng của máy ảnh không phù hợp với ảnh mà nhiếp ảnh gia nghĩ trong đầu.Bù phơi sáng là một chức năng thường được sử dụng trong máy ảnh DSLR. Nó có thể được sử dụng khi chụp ngược sáng, khi chụp một người mặc quần áo màu trắng hoặc đen, cũng như trong nhiều tình huống khác. Một khi bạn hiểu được bù phơi sáng và cách sử dụng nó, chụp ảnh sẽ trở nên thú vị hơn và sự hoàn thiện ảnh của bạn cũng sẽ cải thiện đáng kể. Thực hiện theo các quy trình vận hành của từng máy ảnh để nắm vững kỹ thuật bù phơi sáng. Ngoài ra, không thể sử dụng bù phơi sáng ở các chế độ Basic Zone. Lưu ý rằng nó chỉ có thể được sử dụng ở các chế độ Creative Zone. Làm Cho Đối Tượng Trông Đẹp Hơn Và Sáng Hơn — Tăng Mức Bù     Chụp với bù phơi sáng tự động Đồng hồ đo sáng của máy ảnh phản ứng với độ sáng của làn da, làm cho nó có vẻ tối hơn. Do đó, làn da trông hơi nhợt.   Chụp với mức bù phơi sáng +0,7EV Ảnh này được chụp với mức bù phơi sáng cao hơn. Làn da của đối tượng là người có vẻ sáng như được thấy trên thực tế, với độ màu cũng được tái tạo trung thực.     Làm Cho Màu Đen Trông Đậm Hơn — Giảm Mức Bù Phơi Sáng     Chụp với bù phơi sáng tự động Máy ảnh phản ứng quá mức vì ảnh chung có màu tối và do đó ảnh bị mất chi tiết một chút. Không thể tái tạo cảm giác đậm chắc của đối tượng.   Chụp với mức bù phơi sáng -0,7EV Bù phơi sáng được giảm đáng kể. Màu đen trông đậm hơn, làm cho đối tượng cũng có vẻ đậm hơn.     Cách Sử Dụng Bù Phơi Sáng (1) Chọn Chế Độ Chụp Từ Các Chế Độ Creative Zone   Xoay bánh xe điều chỉnh chế độ để chọn một chế độ chụp từ các chế độ Creative Zone.   (2) Chọn Mức Bù Mong Muốn   Xoay bánh xe điện tử trong khi nhấn nút Bù Phơi Sáng. Xoay nó sang bên phải để tăng mức bù, và sang bên trái để giảm.   (3) Kiểm Tra Mức Bù   Có thể kiểm tra mức bù trên màn hình LCD và trong khung ngắm.     Ryosuke Takahashi Sinh tại Aichi vào năm 1960, Takahashi bắt đầu sự nghiệp nhiếp ảnh tự do vào năm 1987 sau khi làm việc với một studio ảnh quảng cáo và một nhà xuất bản. Chụp ảnh cho các tạp chí lớn, anh đã đến nhiều nơi trên thế giới từ các cơ sở của anh tại Nhật Bản và Trung Quốc. Takahashi là thành viên của Japan Professional Photographers Society (JPS).

Ý nghĩa các Mode dial trên máy ảnh DSLR

    Một số ký hiệu thông dụng trên mode dial Như bạn thấy trong các hình chụp mode dial ở trên, số lượng các chế độ chụp được đặt sẵn trên mode dial là khác nhau tùy thuộc các model máy ảnh. Tùy theo từng model máy mà các ký hiệu này xuất hiện trên mode dial hoặc trong Menu, nên bạn có thể tham khảo khi tìm hiểu các chức năng trong nút Menu của máy. Những người mới lần đầu cầm máy ảnh DSLR có thể e ngại khi thấy có quá nhiều ký hiệu, nhưng thực tế mode dial càng có nhiều ký hiệu càng có nghĩa là bạn có thể truy cập thật nhanh tới những chức năng mong muốn mà không phải mày mò tìm trong Menu, mang lại sự tiện lợi trong sử dụng.  Auto (Tự động): Máy ảnh thiết lập tất cả mọi thứ, bạn chỉ cần đặt ở chế độ này, ngắm và chụp. Được sử dụng cho ảnh chụp nhanh, người dùng không muốn bị làm phiền với các chi tiết hoặc không cần tới các tinh chỉnh để đạt hiệu quả chụp theo ý muốn. Ở hầu hết các model máy ảnh khi được đặt ở chế độ này sẽ có đèn hỗ trợ lấy nét tự động (AF) nếu cần thiết, nghĩa là nếu cảnh chụp đã có đủ ánh sáng thì sẽ không nháy đèn. Máy ảnh cũng tự lựa chọn các điểm lấy nét tự động và thường lấy nét vào chủ thể gần nhất.  Program (Chương trình): Chế độ bán tự động với các chương trình lập sẵn, máy chỉ cho phép người dùng điều chỉnh một số ít tính năng hỗ trợ thêm như ánh sáng, đèn flash, khẩu độ, tốc độ màn trập khi điều kiện chụp thực tế đòi hỏi. Bạn có thể kết hợp các thay đổi khẩu độ và tốc độ màn trập mà máy ảnh đã chọn bằng cách quay thêm bánh xe điều chỉnh thông số.  (time value): Chế độ này thích hợp để chụp các chủ thể di chuyển với tốc độ cao, cho phép người cầm máy kiểm soát tốc độ chụp (tốc độ màn trập), máy sẽ tính toán thông số khẩu độ của ống kính để đạt được độ sáng cần thiết. Tốc độ cửa trập được tính bằng một phần của giây đồng hồ (ví dụ 1/4000, 30 giây…), tốc độ cửa trập càng chậm thì thời gian phơi sáng của cảm biến trên máy ảnh càng nhiều, dẫn tới ảnh càng sáng.  Aperture Priority (Ưu tiên khẩu độ): Đối lập với chế độ ưu tiên màn trập, chế độ này cho phép người dùng kiểm soát khẩu độ (độ mở của ống kính), trong khi máy thiết lập tốc độ màn trập. Khẩu độ mở càng lớn thì luồng ánh sáng lọt qua lỗ điều tiết ánh sáng (aperture) càng nhiều làm ảnh càng sáng. Khẩu độ mở được tính bằng chỉ số f/stop, ví dụ f/1.4, f/2.8, f/8 hay f/32; chỉ số này càng nhỏ thì khẩu độ mở càng lớn và ngược lại. Chế độ này thích hợp khi cần làm nổi bật chủ thể; các đối tượng khác cũng như hậu cảnh được làm mờ.  Manual (Chỉnh tay hoàn toàn): Người dùng có thể hoàn toàn tùy ý sử dụng tất cả các nút chức năng của máy để thiết lập các thông số như tốc độ chụp, độ mở của ống kính, ánh sáng... để đạt các hiệu ứng chụp mong muốn. Chế độ này thích hợp với những người dùng chuyên nghiệp, biết cách tính toán các thông số để có được bức ảnh với những góc chụp mỹ mãn.  Night Portrait (Chân dung ban đêm): Sử dụng tốc độ màn trập chậm với đèn flash, cân bằng giữa hai yếu tố này để ảnh chụp chân dung vào ban đêm trông tự nhiên khi chụp với đèn flash. Có thể sử dụng lấy nét AF đối tượng gần nhất. Nên sử dụng chân máy (tripod) để tránh hiện tượng mờ ảnh.  Macro (Chụp gần): Ở chế độ này, các màu đỏ và xanh lá được nâng đậm lên, máy ảnh sẽ tự động lựa chọn điểm lấy nét trung tâm, người dùng có thể chọn lấy nét thêm những điểm khác nếu máy ảnh có hỗ trợ tính năng Multi-Selector. Đèn flash sẽ tự động bật lên khi ánh sáng yếu. Nên sử dụng chân máy khi chụp ở chế độ này.    Sport (Thể thao): Sử dụng tốc độ màn trập cao hơn, máy ảnh sẽ chuyển sang lấy nét liên tục khi nút chụp được nhấn xuống nửa chừng, theo dõi đối tượng lấy nét ở khu vực lấy nét trung tâm. Nếu chủ thể rời khỏi khu vực trung tâm AF, máy ảnh sẽ dõi theo và đánh giá điểm lấy nét từ các vùng lấy nét khác. Máy ảnh có thể hỗ trợ người dùng chọn vùng lấy nét mong muốn. Cả đèn flash và đèn hỗ trợ lấy nét đều ở trạng thái tắt khi sử dụng chế độ này. Thích hợp để chụp các sự kiện thể thao hoặc chuyển động nhanh.  Landscape (Cảnh quan): Tăng độ bão hòa màu sắc, độ tương phản và sắc nét cho bức ảnh phong cảnh thành phố hoặc núi rừng. Máy sẽ sử dụng lấy nét AF điểm gần nhất, đèn flash và đèn hỗ trợ AF được tắt trong chế độ này.  Portrait (Chân dung): Điều chỉnh khẩu độ ống kính để làm mềm các chi tiết nền nhằm giúp chủ thể chính nổi bật rõ ràng hơn. Độ sắc nét và độ bão hòa màu sắc được kiểm duyệt một chút, mang lại tông màu da mềm mại và trông tự nhiên hơn. Đèn flash sẽ bật lên nếu ánh sáng quá mờ nhạt.  Scene (Cảnh), còn có ký hiệu là : Truy cập tới các chế độ mặc cảnh (cạnh định sẵn) trên máy ảnh mà mode dial không đủ chỗ để ghi hết. Khi chọn chế độ này, máy ảnh sẽ hiển thị danh sách các chế độ mặc cảnh mà máy cung cấp lên màn hình để bạn chọn. Một số máy ảnh chỉ cung cấp vài cảnh định sẵn, nhưng cũng có nhiều máy ảnh cao cấp cho bạn tới vài chục cảnh khác nhau. Các cảnh định sẵn thông dụng gồm: Night Landscape (phong cảnh ban đêm), Party/Indoor (chụp tiệc tùng/ trong nhà), Beach/Snow (chụp bãi biển/tuyết), Sunset (chụp hoàng hôn), Dusk/Dawn (chụp bình minh), Pet Portraits (chụp thú cưng), Blossom (chụp hoa), Autumn Colors (chụp phong cảnh mùa thu), Food (chụp thức ăn), Silhouette (chụp ngược sáng, tạo bóng đen trên nền cảnh), High Key (chụp ảnh dư sáng với chỉ một vài chi tiết trong ảnh được nổi lên), Low Key (chụp với nền cảnh màu tối, nổi bật chủ thể)...  Auto Flash Off (tắt đèn flash): Trong chế độ này, phơi sáng tự động nhưng flash bị vô hiệu hóa, và máy ảnh sẽ tự thay đổi các mức ISO tùy thuộc nguồn sáng của khung cảnh xung quanh. Đèn hỗ trợ lấy nét AF sẽ được bật nếu cần thiết, và máy ảnh lựa chọn điểm AF với chủ thể gần nhất. Chế độ này rất tốt khi chụp ảnh trong bảo tàng hoặc những nơi mà đèn flash không được phép, trông sẽ tự nhiên hơn ảnh chụp trong nhà.  Scene Intelligent Automatic (chọn khung cảnh thông minh): là chế độ bổ sung/thay thế cho chế độ tự động hoàn toàn (Full Auto), trong đó ngoài việc máy ảnh có thể tự thiết lập các thông số phơi sáng, tốc độ…, còn có thêm chế độ Picture Styles, nghĩa là máy có thể tự động lựa chọn một cách thông minh các chế độ mặc cảnh có sẵn trong máy một cảnh phù hợp nhất với hoàn cảnh chụp xung quanh. Chế độ này khác với chế độ Scene hoặc SCN ở chỗ máy sẽ thay bạn chọn cảnh một cách tự động, chứ không phải bạn tự thiết lập cảnh chụp.  Creative Auto Mode (chế độ sáng tạo tự động): Ký hiệu này thường thấy trên máy ảnh Canon, một chế độ phơi sáng mới, có tác dụng tương đương như chế độ P được mở rộng. Khi thiết lập máy ở chế độ CA, máy ảnh cho phép người dùng điều chỉnh kiểu chụp (picture style), thông số phơi sáng, lựa chọn định dạng file RAW hay JPEG, nhưng phần lớn các tùy chọn khác vẫn là tự động. Màn hình LCD sẽ hiển thị các thông tin/hướng dẫn cho mỗi phần thông số cần điều chỉnh, chẳng hạn như nhắc người dùng xem có muốn làm mờ phông nền không, hoặc có muốn làm cho hình ảnh tối hơn/sáng hơn không…  Bulb (Bóng đèn): chế độ chụp ảnh dưới bóng đèn, có trên máy ảnh Canon. Trong chế độ này, màn trập được giữ ở trạng thái mở chừng nào người dùng còn nhấn nút màn trập. Điều này rất hữu ích khi cần phơi sáng lâu như cảnh đêm, pháo hoa, chụp thiên thạch, bầu trời đêm. Khi đặt chế độ này, màn hình LCD sẽ hiển thị ở phía trên thông số về khoảng thời gian đã trôi qua, trong suốt quá trình phơi sáng. Người dùng nên sử dụng thêm điều khiển từ xa hoặc hẹn giờ khi chụp ở chế độ này.    Camera User Settings (chế độ do người dùng cài đặt, còn gọi là Custom): Cho phép bạn ghi lại một số cài đặt cá nhân để truy cập nhanh khi cần, thường thấy trên máy ảnh của Canon. Tùy theo từng model máy mà bạn sẽ chỉ có một, hai, hay cả ba nút này; nếu có một nút thì chỉ ghi là C. Các nút này rất hữu ích khi bạn chụp một sự kiện với nhiều nguồn ánh sáng khác nhau, chẳng hạn như một đám cưới, các chế độ tùy chỉnh này sẽ cho phép bạn cài đặt máy ảnh cho các điều kiện chụp cụ thể và sau đó dễ dàng chuyển đổi giữa các chế độ một cách nhanh chóng. Bạn có thể lưu hầu hết các tùy chọn chế độ chụp của máy ảnh vào các nút này. Để thực hiện cài đặt thông số cho các nút này, bạn truy cập vào menu Camera User Setting.  Automatic Depth of Field AE (chọn Độ sâu trường ảnh tự động): dùng để chụp một nhóm nhiều người, hoặc chụp cảnh vật mà có nhiều chi tiết ở phía tiền cảnh, hoặc các chủ đề mà có nhiều yếu tố cần quan tâm và ở các khoảng cách khác nhau so với máy ảnh. Khi thiết lập chế độ này, máy ảnh sẽ kiểm soát tốc độ màn trập và các giá trị khẩu độ, còn bạn có thể điều chỉnh các thông số khác. Lưu ý là chế độ này không thể sử dụng được nếu ống kính lấy nét đang đặt ở chế độ lấy nét bằng tay (MF-Manual Focus). Máy ảnh sẽ sử dụng hệ thống tự động lấy nét để đo khoảng cách của các đối tượng nằm trong các vùng lấy nét tự động mà máy hỗ trợ, sau đó sẽ thiết lập một khoảng cách lấy nét xác định và khẩu độ ống kính tương ứng để làm cho tất cả các đối tượng đều sắc nét.  

Máy ảnh full-frame là gì?

Một trong những thuật ngữ được sử dụng trong máy ảnh số đó là máy ảnh full-frame. Vậy máy ảnh full-frame là gì? máy ảnh full-frame khác gì so với máy ảnh số thông thường? và người dùng sẽ được lợi gì khi chụp ảnh bằng máy ảnh full-frame? Hình ảnh cảm biến Fullframe Cảm biến full-frame của Canon EOS 5D Mark II với 21,1 triệu điểm ảnh hiệu dụng. Ảnh: Anandtech. Máy ảnh full-frame là gì? Theo Wikipedia, máy ảnh full-frame là máy ảnh dSLR sử dụng cảm biến ảnh có cùng cỡ như cỡ khung hình film chuẩn 35 mm (36×24 mm), trái ngược với các máy ảnh sử dụng cảm biến nhỏ hơn, đặc biệt là cỡ tương đương với cỡ film APS-C – nhỏ hơn rất nhiều so với khung hình đầy đủ 35 mm. Hiện tại, phần lớn máy ảnh số, cả compact và dSLR, sử dụng khung hình nhỏ hơn 35 mm vì việc sản xuất cảm biến ảnh nhỏ hơn thì dễ hơn, rẻ hơn. Cảm biến full-frame là gì? Có hai thuật ngữ thường được sử dụng khi nói tới kích cỡ cảm biến của máy ảnh số (sensor) đó là cảm biến toàn khung (full-frame) và cảm biến APS-C (Crop). Để xác định đâu là cảm biến full-frame và đâu là cảm biến APS-C, người ta dựa vào khung film tiêu chuẩn của máy ảnh cơ 24mm x 36mm (máy phim 35mm). So sánh độ dài đường chéo cảm biến full-frame so với APS-C: 43.27mm : 28.43mm ~ 1.5 lần. Nếu máy ảnh có kích cỡ cảm biến nhỏ hơn kích thước khung phim tiêu chuẩn 24mm x 36mm thì tỉ lệ nhỏ hơn đó được thể hiện bởi thông số crop factor 1.x. Ví dụ cảm biến APS-C có crop factor là 1.5 có nghĩa là độ dài đường chéo của cảm biến máy ảnh đó ngắn hơn so với độ dài đường chéo cảm biến trên máy ảnh cơ 24mm x 36mm là 1,5 lần. Ưu điểm của cảm biến full-frame Như giải thích ở trên, máy ảnh số thông thường dùng cảm biến APS-C có kích cỡ nhỏ hơn so với cảm biến trên các máy ảnh full-frame nên chất lượng ảnh chụp ra cũng kém hơn so với ảnh chụp từ máy full-frame. Lý do là cảm biến full-frame lớn hơn sẽ thu nhiều ánh sáng hơn, khả năng xử lý nhiễu tốt hơn, màu sắc thật hơn so với ảnh chụp từ máy APS-C. Ngoài chất lượng ảnh chụp vượt trội, máy ảnh full-frame còn có lợi thế hơn so với máy ảnh APS-C ở tiêu cự ống kính không bị thay đổi. Ví dụ cùng với ống kính Canon EF 70-200mm, nếu lắp trên máy full-frame khi chụp sẽ đạt được đúng dải tiêu cự mà nhà sản xuất đưa ra, nhưng với máy APS-C do cảm biến nhỏ hơn nên ảnh cũng nhỏ hơn, độ rộng của khung hình sẽ không bằng máy ảnh full-frame, góc nhìn sẽ tương đương với một ống kính có tiêu cự dài hơn. Khái niệm thường được dùng trong trường hợp này là tiêu cự tương đương. Tiêu cự tương đương sẽ được tính bằng tiêu cự của nhà sản xuất ống kính nhân với hệ số crop factor 1.x tương ứng, ví dụ với các máy Canon có crop factor 1.6x thì ảnh chụp với ống 70-200 có góc nhìn tương đương ống 112-320mm trên full-frame. Cần lưu ý là tuy máy ảnh APS-C cho ra ảnh có góc nhìn tương đương ống kính dài hơn trên full-frame, điều đó không có nghĩa là nó cho ảnh có độ phóng to lớn hơn.  Ví dụ cùng với ống kính 50mm, máy full-frame và máy APS-C đều cho độ phóng to ảnh như nhau, tức là ở cùng một độ phân giải thì vật thể có kích cỡ bằng nhau, nhưng máy ảnh APS-C sẽ có góc nhìn hẹp hơn. Cảm biến full-frame cho chất lượng ảnh tốt hơn, màu sắc chân thực hơn nhưng cũng có giá thành sản xuất đắt hơn APS-C nên thường chỉ được trang bị trên các máy ảnh số cao cấp thuộc dòng chuyên nghiệp với mức giá vài nghìn đô trở lên. Một số loại máy ảnh full-frame nổi tiếng như Canon EOS 5D Mark II, 5D Mark III, Nikon D800, Nikon D4...

Cảnh Đêm – Kiểm Soát Ánh Sáng Để Có Những Tấm Ảnh Đẹp

Thời điểm trong ngày trước khi hoàng hôn buông xuống và sau hoàng hôn là rất lý tưởng cho các nhiếp ảnh gia. Chụp cảnh ánh sáng đẹp tại các công viên giải trí hoặc ánh đèn thành phố bằng máy ảnh của bạn. Bài viết này sẽ cho bạn biết một nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp sẽ sử dụng EOS 100D, một chiếc máy ảnh DSLR có khả năng chụp thiếu sáng tốt và biểu đạt tông màu tốt, như thế nào. Tìm hiểu các kỹ thuật để chụp được những tấm ảnh đẹp về phong cảnh đêm. (Người trình bày: Yurika Kadoi) EF-S10-22mm f/3.5-4.5 USM/ FL: 22mm/ Manual exposure (5 giây, f/11)/ ISO 100/ WB: Auto Các điểm thu hút tại một công viên giải trí được chụp ở tốc độ cửa trập thấp. Tôi điều chỉnh tốc độ và chọn thời gian phơi sáng lâu để tạo ra nhiều vệt sáng trong ảnh.   Kỹ thuật 1: Biểu Diễn Những Vệt Sáng bằng Tốc Độ Cửa Trập Thấp Dự Đoán Các Chuyển Động Để Chụp Được Các Vệt Sáng Với một chân máy, bạn có thể đặt thời gian phơi sáng lâu để tạo ra những hiệu ứng đẹp mà mắt thường chúng ta không nhìn thấy được. Một ví dụ như thế là các vệt sáng được chụp ở tốc độ cửa trập thấp. Đèn pha của những chiếc xe hoặc những ánh đèn chuyển động khác để lại các vệt sáng, trong khi đèn của các tòa nhà sẽ đứng yên, tạo ra một thế giới thú vị chỉ có thể có ở chụp ảnh đêm. Một điểm quan trọng là phải quyết định lúc nào cần nhả cửa trập. Bạn nên lập bố cục trước bằng cách cân nhắc các nguồn vệt sáng sẽ chuyển động thế nào, và phải nhả cửa trập vào lúc chúng chạm đến điểm đã định trước. Cần phải tinh chỉnh tốc độ cửa trập theo chuyển động của đối tượng, do đó bạn nên thử sử dụng nhiều tốc độ trước khi quyết định cần sử dụng tốc độ nào. Kiểm tra địa điểm Điều quan trọng là phải có ý tưởng về địa điểm chụp khi trời vẫn còn sáng. Bằng cách này, bạn sẽ có thể chụp dễ dàng.     Chế độ [Handheld Night Scene (Cảnh Đêm Cầm Tay)] sẽ làm đứng yên chuyển động Khi chế độ [Handheld Night Scene (Cảnh Đêm Cầm Tay)] được chọn, một độ nhạy ISO cao và tốc độ cửa trập cao được tự động cài đặt, nó đóng băng chuyển động của đối tượng mà không tạo ra các vệt sáng.     Không có vệt sáng khi tốc độ chuyển động thấp Nếu đối tượng của bạn chuyển động chậm hoặc hoàn toàn không chuyển động, sẽ không có vệt sáng nào được tạo ra ngay cả ở tốc độ cửa trập thấp.   Phòng Tránh Rung Máy bằng Chân Máy và Công Tắc Điều Khiển Từ Xa Thử Phơi Sáng Thủ Công Sau khi làm quen với thao tác của EOS 100D, bạn nên thử chụp cảnh đêm. Nhiều người dường như cho rằng chụp cảnh đêm không phải là việc dễ dàng. Trên thực tế, nó không khó như bạn tưởng một khi bạn đã nắm bắt những điểm quan trọng. Trước khi chụp, hãy chuẩn bị sẵn chân máy và công tắc điều khiển từ xa để bạn có thể ổn định máy và nhả cửa trập một cách nhẹ nhàng mà không làm rung máy. Máy ảnh EOS 100D có chế độ [Handheld Night Scene (Cảnh Đêm Cầm Tay)], chế độ này không cần chân máy. Tuy nhiên, để chụp được cảnh đẹp ít nhiễu, bạn nên chuẩn bị sẵn chân máy và công tắc điều khiển từ xa. Một điểm nữa là kiểm tra vị trí chụp trước khi trời tối. Các thiết lập khuyên dùng đối với máy ảnh là chế độ Aperture-priority AE và phơi sáng thủ công. Người dùng có xu hướng tránh sử dụng phơi sáng thủ công vì họ thấy khó xử lý. Tuy nhiên, chế độ phơi sáng này là lý tưởng đối với cảnh đêm vì có ít dao động ở độ sáng xung quanh vào ban đêm. Nếu bạn dùng chân máy, hãy sử dụng ISO 100 hoặc 200 và thiết lập khẩu độ f/8 làm cơ sở, và điều chỉnh mức phơi sáng bằng cách tinh chỉnh tốc độ cửa trập. Các Thiết Lập Khuyên Dùng Của EOS 100D Để Chụp Cảnh Đêm!   Chân Máy + Công Tắc Điều Khiển Từ Xa Aperture-priority AE hoặc Phơi Sáng Thủ Công Độ Nhạy Sáng ISO Thấp Chức Năng Live View     Kỹ thuật 2: Nhấn Mạnh Cảnh Đêm bằng Tỉ Lệ Màn Hình [16:9] EF-S18-55mm f/3.5-5.6 IS STM/ FL: 24mm/ Manual exposure (6 giây, f/8)/ ISO 200/ WB: Auto Để chụp cảnh xa Yokohama, tôi chọn tỉ lệ màn hình là [16:9] để xén một phần trời tối đen bên trên, nhờ đó nhấn mạnh cảnh đêm và cặp tình nhân. Xén Bầu Trời Tối Sau hoàng hôn, bầu trời trở nên rất tối. Tránh để cho bầu trời tối chiếm một phần lớn của bố cục, vì như thế có thể làm mất không khí nhiều màu sắc của cảnh đêm. Một phương pháp hiệu quả trong trường hợp này là thay đổi tỉ lệ màn hình. Đối với ảnh nằm ngang, chọn [16:9] sẽ xén một phần bầu trời hiện mờ mờ ở bên trên và mặt đất tối ở dưới. Các phần trên và dưới bị che mờ trên ảnh Live View, cho phép bạn kiểm tra bố cục trước khi chụp ảnh. Bầu trời rộng lớn với tỉ lệ [3:2] Với một cặp tình nhân ở phía trước được đưa vào bố cục, các khoảng trống lớn được tạo ra ở bên trên và bên dưới. Bầu trời tối để lại một ấn tượng mạnh.     Chức năng Live View thuận tiện Chức năng Live View đặc biệt có ích khi chụp ảnh với chân máy. Với EOS 100D, bạn có thể chỉ cần chạm vào một điểm trên màn hình LCD để xác định nơi cần lấy nét. Hiển thị khung lưới cũng có thể được sử dụng để đảm bảo ảnh của bạn được cân bằng.   Kỹ thuật 3: Cân bằng trắng [Daylight (Ban ngày)] thêm vẻ ấm áp EF-S55-250mm f/4-5.6 IS II/ FL: 65mm/ Manual exposure (1,6 giây, f/11)/ ISO 400/ WB: Daylight Tôi chọn [Daylight (Ban ngày)] để thêm một tông màu ấm áp làm nổi bật những trang trí sống động của Khu Người Hoa của Yokohama.     Hãy Thử Các Thiết Lập Cân Bằng Trắng Khác Nhau Có thể kiểm soát ấn tượng của một tấm ảnh đêm bằng cách điều chỉnh tông màu. Để tái tạo màu sắc thực tế một cách chân thực, hãy chọn tùy chọn cân bằng trắng [Auto (Tự động)]. Tuy nhiên, nếu ý định của bạn là diễn tả không khí của địa điểm đó, hãy thử sử dụng một thiết lập cân bằng trắng khác. Chọn [Daylight (Ban ngày)] sẽ cải thiện tông màu cam và thêm vẻ ấm áp cho ảnh, trong khi nên dùng [Tungsten light (Đèn dây tóc)] nếu bạn muốn nhấn mạnh không khí mát mẻ của tông màu xanh dương và trắng. Thiếu vẻ vui nhộn với thiết lập [Auto (Tự động)] Thiết lập [Auto (Tự động)] tái tạo màu sắc rất chân thực, nhưng không thể chuyển tải vẻ sống động của một con phố nhộn nhịp.     Sử dụng [Mirror lockup (Khóa gương)] khi bạn không dùng chức năng Live View Ngay cả khi bạn dùng chân máy, những rung động của gương cũng có thể làm rung máy. Đặt tính năng [Mirror lockup (Khóa gương)] thành [Enable (Bật)] khi bạn chụp cảnh đêm qua khung ngắm. Khi tính năng này được bật, bạn cần phải nhấn nút chụp hai lần để chụp ảnh.     Hiệu ứng nén phối cảnh Tôi sử dụng một ống kính chụp xa để nén phối cảnh mà các nguồn sáng có thể xuất hiện tập trung hơn.   Yurika Kadoi Sinh tại Toyama và tốt nghiệp Khoa Kỹ Thuật, Đại Học Kanazawa, Kadoi đã làm việc cho một hãng sản xuất thiết bị điện tử trước khi trở thành trợ lý cho một studio. Sau đó cô trở thành nhiếp ảnh gia tự do, và hiện nay tham gia sáng tác nhiều tác phẩm khác nhau từ chân dung đến ảnh tĩnh để làm phim.  

Tìm Hiểu Cân Bằng Trắng

Ánh sáng xuất hiện với các màu sắc khác nhau (ví dụ như ánh sáng từ đèn huỳnh quang có xu hướng ngả xanh trong khi ánh sáng từ bóng đèn tròn có xu hướng đỏ hoặc cam. Cân bằng trắng sẽ khắc phục tác động của màu ánh sáng đối với ảnh. Chúng ta hãy xem xét các loại và các hiệu ứng cân bằng trắng. (Người trình bày: Ryosuke Takahashi)   Tìm hiểu ý nghĩa của Cân Bằng Trắng và tìm hiểu cách sử dụng của nó Không giống như máy ảnh phim, máy ảnh số có thể chụp ảnh với độ màu phù hợp dưới bất kỳ nguồn sáng nào. Chức năng này là để điều chỉnh độ màu được gọi là cân bằng trắng. Khái niệm cơ bản của cân bằng trắng nằm ở việc “tái tạo một vật thể màu trắng bằng màu trắng dưới bất kỳ nguồn sáng nào”. Nó điều chỉnh tông màu phát sinh khi ảnh được chụp ở một nguồn sáng cụ thể bằng cách tăng màu bù của nó (màu xung đột). Các ảnh bên dưới đều được chụp vào ban ngày chỉ có thiết lập cân bằng trắng là thay đổi. Tông màu được tạo ra trong mỗi ảnh cân bằng trắng thể hiện màu bù khi được khắc phục. Một bộ lọc màu được sử dụng để chỉnh các tông màu này trong chụp ảnh phim. Nguyên tắc cơ bản cũng tương tự như máy ảnh số có cân bằng trắng tương đương một bộ lọc màu. Tuy nhiên, không có tính năng “Tự Động Cân Bằng Trắng (AWB)” tương ứng trong một bộ lọc màu. AWB là đủ để sử dụng bình thường như có thể là hiệu quả khi sử dụng các loại cân bằng trắng khác nhau khi độ màu không khớp với các điều kiện cụ thể. Daylight Màu sắc xuất hiện bình thường dưới ánh nắng ban ngày vào một ngày trời trong. Một thiết lập cân bằng trắng có khả năng thích nghi cao có thể được sử dụng trong chụp ảnh thông thường ngoài trời. Shade Độ màu được điều chỉnh sao cho màu sắc xuất hiện bình thường ở các khu vực bóng râm ngoài trời vào một ngày trời trong. Xuất hiện độ màu hơi đỏ khi được sử dụng dưới ánh nắng vào một ngày trời trong.     Cloudy Độ màu được điều chỉnh giả định vào một ngày có mây, không có ánh nắng. Mức độ điều chỉnh hơi yếu hơn so với hiệu ứng shade. Tungsten Light Cân bằng trắng điều chỉnh độ màu từ đèn sợi đốt. Màu xanh dương xuất hiện mạnh hơn vì nó ức chế tông màu đỏ gây ra bởi đèn sợi đốt.     White Fluorescent Light Độ màu được điều chỉnh dùng cân bằng trắng từ đèn sợi đốt. Màu xanh dương xuất hiện mạnh hơn vì nó ức chế tông màu đỏ gây ra bởi đèn sợi đốt. Flash Cân Bằng Trắng điều chỉnh tông màu xanh dương của ánh sáng đèn flash. Xu hướng khắc phục tương tự như hiệu ứng “Cloudy”.     Các Thiết Lập Cân Bằng Trắng Khác AWB Tự động điều chỉnh các màu cụ thể phát ra bởi mọi nguồn sáng. Cũng khắc phục màu sắc của ánh sáng phát ra bởi sự kết hợp các nguồn sáng. Thường được đặt thành AUTO khi chụp ảnh.       AF Cân Bằng Trắng điều chỉnh dựa trên một tiêu chuẩn được tùy chỉnh bởi dữ liệu ảnh được chụp đối với một đối tượng màu trắng hoặc xám dưới ánh sáng của địa điểm chụp.       Thiết Lập Nhiệt Độ Màu Cân Bằng Trắng trong đó một giá trị chữ số của bước sóng của một màu (Nhiệt Độ Màu) được nhập vào máy ảnh. Cần có một sắc kế để chụp ảnh ở chế độ này. Tùy chọn này không khả dụng trên một số mẫu máy.   Sử Dụng Cân Bằng Trắng Làm Phương Pháp Biểu Đạt Cân Bằng Trắng thường xuyên tìm cách tái tạo độ màu chính xác. Tuy nhiên, cũng có những tình huống bạn không muốn độ màu chính xác về mặt dữ liệu trong biểu đạt nhiếp ảnh. Ngoài ra, cũng có những kỹ thuật để biểu đạt độ màu bằng cách cố tình cài đặt một thiết lập cân bằng trắng khác cho nhiều mục đích sử dụng.     Ryosuke Takahashi Sinh tại Aichi vào năm 1960, Takahashi bắt đầu sự nghiệp nhiếp ảnh tự do vào năm 1987 sau khi làm việc với một studio ảnh quảng cáo và một nhà xuất bản. Chụp ảnh cho các tạp chí lớn, anh đã đến nhiều nơi trên thế giới từ các cơ sở của anh tại Nhật Bản và Trung Quốc. Takahashi là thành viên của Japan Professional Photographers Society (JPS).

Hiệu Ứng Góc trên Ảnh

Trong Bài Học 13, tôi sẽ giải thích việc chụp ở các góc khác nhau có thể ảnh hưởng thế nào đến ảnh của bạn. Nếu bạn muốn bắt đầu sử dụng một chiếc máy ảnh mirrorless, hoặc vừa mới mua một chiếc máy ảnh mới, loạt bài viết này cung cấp các bài học dễ hiểu về những kỹ thuật để chụp được những tấm ảnh đẹp bằng máy ảnh EOS M, máy ảnh này có chất lượng hình ảnh cao và dễ vận hành. Bằng cách học các điểm cơ bản về máy ảnh và nhiếp ảnh, bạn sẽ có thể dễ dàng tạo ra những tấm ảnh như ý muốn! (Người chụp: Yuji Ogura, Soạn & Tổ Chức bởi: Phòng Biên Tập của Camera Biyori)   Hỏi: Góc ảnh hưởng thế nào đến ấn tượng của người xem đối với ảnh? Đáp: ‘Góc’ là hướng của máy ảnh liên quan đến đối tượng. Ấn tượng của một tấm ảnh sẽ thay đổi tùy vào góc chụp của đối tượng, chẳng hạn như từ mặt bên, chéo trên, hay ngay bên trên. Chúng ta hãy xem một số ví dụ về chụp một đối tượng từ các góc khác nhau. Hiệu Ứng Góc Chúng ta hãy tìm hiểu các góc khác nhau bằng cách chụp từ mặt bên, chéo trên, và ngay bên trên. Từ Mặt Bên Chụp ảnh từ mặt bên tạo ra một bố cục chuyển tải rõ chiều cao của đối tượng, chẳng hạn như của một cái tách. Chú ý đến hướng ngang của ảnh để mang lại tính ổn định cho ảnh. Đặt máy ảnh về một bên của đối tượng. Lưu ý độ sâu trường ảnh (vùng xuất hiện sắc nét).     Chéo Từ Bên Trên Khi đối tượng được chụp chéo từ bên trên, điểm quan sát gần với khi chúng ta ngồi, và ảnh có được có xu hướng có vẻ tự nhiên. Ngoài ra, góc này giúp dễ chụp toàn bộ hình ảnh các yếu tố, và các vị trí tương đối của chúng cũng được xác định rõ. Cầm máy ảnh sao cho đối tượng được chéo từ bên trên. Đảm bảo cầm chắc để tránh rung máy.     Ngay Từ Bên Trên Chụp đối tượng ngay bên trên sẽ nhấn mạnh hình dạng của đối tượng, tạo ra một tấm ảnh phẳng và mang tính hình học. Góc này giúp tạo ra một bố cục được tổ chức tốt ngay cả khi có nhiều dĩa trên bàn, như minh họa trong ví dụ. Đặt máy ảnh ngay bên trên đối tượng. Cẩn thận không chụp bóng của bạn trong bố cục.     Chụp Từ ‘Các Góc’ Khác Nhau Tạo Ra Những Tấm Ảnh Có Ấn Tượng Mạnh Ảnh chụp từ góc thấp cột của một công trình kiến trúc từ bên dưới. Nhắm máy ảnh lên trên sẽ tạo ra tác động mạnh, và cho phép người ta cảm nhận chiều cao của công trình. Tạo Ra Các Tấm Ảnh Mang Tính Hình Học Đây là một ảnh chụp một cái thùng từ ngay bên trên. Hình tròn của nó cũng như các đường ngang dọc được nhấn mạnh.     Chiếc máy ảnh mirrorless đầu tiên của Canon, EOS M, có bốn màu khác nhau (đen, đỏ, trắng và bạc) để bạn có thể chọn theo sở thích của mình! Nhấp vào đây để biết thêm chi tiết     Yuji Ogura Hoạt động của Ogura trong lĩnh vực nhiếp ảnh mở rộng từ chụp các tác phẩm nhiếp ảnh đến rửa và in phim. Ông là một trong các giảng viên tại ‘Trường Nhiếp Ảnh Camera Biyori’. Ông bắt đầu sự nghiệp với vị trí kỹ sư tại một phòng thí nghiệm phim và sau đó thành lập phòng ‘ảnh mogu’ của riêng mình. Ông cũng điều hành studio chụp chân dung ‘mogu sun’.   Camera Biyori Camera Biyori là một tạp chí nhiếp ảnh của Nhật, giới thiệu những tấm ảnh đẹp và niềm vui hàng ngày với máy ảnh. Đề nghị những hoạt động vui nhộn liên quan đến máy ảnh và nhiếp ảnh, ban biên tập Camera Biyori cũng mở ‘Trường Nhiếp Ảnh Camera Biyori’ để giới thiệu độc giả tham gia nhiếp ảnh và giải trí. http://www.camerabiyori.com Xuất bản bởi Daiichi Progress Inc.

Chụp Chân Dung với Flash Đồng Bộ Chậm

Mặc dù thời lượng đèn flash cực kỳ ngắn, khoảng vài phần ngàn giây, đèn Speedlite của Canon có thể tạo ra ánh sáng đủ mạnh để chiếu sáng các đối tượng. Do đó, khi chụp ảnh ở điều kiện thiếu sáng, chỉ có đối tượng được làm sáng bằng đèn flash của Speedlite sẽ được chụp trong ảnh bất kể tốc độ cửa trập của máy ảnh là bao nhiêu. Đây là nguyên tắc đằng sau kỹ thuật flash đồng bộ chậm. (Người trình bày: Koji Ueda)   Sử Dụng Hiệu Quả Hiệu Ứng Nhòe Đối Tượng với Tốc Độ Cửa Trập Thấp & Đèn Flash Bằng cách kết hợp ánh sáng đèn flash với tốc độ cửa trập thấp, có thể biểu đạt đối tượng một cách nghệ thuật bằng cách đặt hiệu ứng lướt nhanh lên hiệu ứng nhòe đối tượng. Thủ thuật sử dụng flash đồng bộ chậm là chụp ở một địa điểm có ít ánh sáng xung quanh để cho nền sau không bị quá sáng ngay cả ở tốc độ cửa trập thấp. Yêu cầu đối tượng di chuyển hông để tạo ra hiệu ứng nhòe chuyển động, và phủ lên nó một ảnh chụp vào lúc nháy đèn flash. Đây là một kỹ thuật hiệu quả để biểu đạt chuyển động của đối tượng. EOS 600D/ EF17-40mm f/4L USM/ Shutter-priority AE (0,4 giây, f/20, -1EV)/ ISO 100/ WB: Auto/ Speedlite 430EX II (E-TTL, bù phơi sáng: -1,7EV)     Thủ Thuật Sử dụng tốc độ cửa trập thấp ở một địa điểm thiếu sáng trong bóng râm Nháy đèn flash để ‘đóng băng’ một chuyển động thoáng qua   Điều Kiện Chụp Ảnh này được chụp trong bóng râm với máy ảnh đặt cách đối tượng 1,5m. Để tạo ra hiệu ứng nhòe ở đối tượng, tôi chọn Shutter-priority AE và đặt tốc độ cửa trập ở 0,4 giây. Máy ảnh được lắp vào chân máy, và đèn flash được nháy trực tiếp vào đối tượng. Vị Trí Của Đối Tượng, Máy Ảnh Và Đèn Speedlite A: Khoảng 1,5m       Chụp Cả Cảnh Đêm & Chân Dung Một Cách Rõ Nét Bạn có thể chụp ảnh chân dung ban đêm một cách rõ nét bằng cách kết hợp tốc độ cửa trập thấp với đèn flash. Tốc độ cửa trập thấp giúp làm sáng nền sau, trong khi đèn flash chiếu sáng đối tượng. Để tránh rung máy khi chụp cầm tay, hãy đảm bảo tốc độ cửa trập tương đương ’1/độ dài tiêu cự’ giây. Trong ví dụ này, tôi nâng độ nhạy sáng ISO lên 3200 để có được tốc độ cửa trập 1/30 giây để không xảy ra rung máy. Khi tôi quỳ xuống để chụp ảnh góc thấp, tôi đặt máy ảnh lên đầu gối bên kia như một cách khác để phòng tránh rung máy. Để đảm bảo lấy nét chính xác, tôi khép khẩu xuống f/4.5 đồng thời chú ý độ sâu trường ảnh. EOS 600D/ EF-S10-22mm f/3.5-4.5 USM/ Manual exposure (1/5 giây, f/4.5, -0,7EV)/ ISO 800/ WB: Auto/ Speedlite 430EX II (E-TTL, Bù phơi sáng flash: -0,7EV)     Thủ Thuật Sử dụng tốc độ cửa trập thấp để làm sáng nền sau Sử dụng đèn Speedlite để chiếu sáng đối tượng Tăng độ nhạy sáng ISO để có tốc độ cửa trập nhanh hơn   Điều Kiện Chụp Máy ảnh được đặt cách đối tượng khoảng 2m, với cảnh đêm thành phố ở nền sau. Để đưa toàn cảnh các tòa nhà cao tầng lên đến tầng cao nhất, tôi chụp một ảnh cầm tay từ góc thấp. Mặc dù cần phải giảm tốc độ cửa trập để tạo ra một tấm ảnh cảnh đêm sáng, làm như thế hẳn đã dẫn đến rung máy, do đó tôi nháy đèn Speedlite trực tiếp vào đối tượng. Vị Trí Của Đối Tượng, Máy Ảnh Và Đèn Speedlite A: Khoảng 2m     Các Bước Sử Dụng Đèn Flash Đồng Bộ Chậm 1. Chọn Một Tốc Độ Cửa Trập Thấp   Cài đặt tốc độ cửa trập đến một thiết lập chậm. Ở một cảnh thiếu sáng, tốc độ cửa trập giảm xuống một cách tự nhiên để có phơi sáng thích hợp. Tuy nhiên, ở cảnh sáng, cần phải khép khẩu để giảm tốc độ cửa trập sao cho có thể có được phơi sáng thích hợp. Chế độ Tv hoặc M sẽ rất tiện trong trường hợp này.     2. Cố Định Máy Ảnh   Ngay cả khi bạn muốn sử dụng hiệu quả hiệu ứng nhòe đối tượng, vẫn có thể tránh được rung máy. Để tránh rung máy trong ảnh cầm tay, hãy cầm chắc máy ảnh. Nếu bạn có chân máy, hãy sử dụng chân máy ở bất kỳ đâu có thể.     3. Chọn Màn Chắn Thứ Nhất Hoặc Màn Chắn Thứ Hai   Chọn đồng bộ màn chắn thứ nhất hoặc màn chắn thứ hai bằng cách nhấn nút ‘Shutter curtain synchronization’ trên đèn Speedlite. Nếu không có nút này, chọn một chế độ đồng bộ dùng menu thiết lập trên máy ảnh.     4. Nhấn Nút Chụp Trong Khi Chú Ý Phòng Tránh Rung Máy   Nhấn nút chụp trong khi chú ý phòng tránh rung máy. Nếu bạn dùng chân máy, nên sử dụng tính năng tự hẹn giờ hoặc nhả cửa trập từ xa.     Koji Ueda Sinh năm 1982 tại Hiroshima, Ueda bắt đầu sự nghiệp với vị trí trợ lý cho nhiếp ảnh gia Shinichi Hanawa. Sau đó anh trở thành nhiếp ảnh gia tự do, và hiện nay tham gia nhiều công việc khác nhau từ tạp chí đến quảng cáo trong khi chụp ảnh tại các thành phố và phong cảnh khác nhau trên khắp thế giới. Anh cũng là một nhà văn và giảng viên tại các lớp học và hội thảo về nhiếp ảnh.

’Làm Đóng Băng’ Chuyển Động với Đồng Bộ Tốc Độ Cao

Khi sử dụng một đèn flash bình thường, tốc độ cửa trập nhanh nhất bị giới hạn ở phạm vi từ 1/200 đến 1/300 giây. Nếu bạn muốn chụp ở tốc độ cửa trập cao hơn, hãy sử dụng tính năng đồng bộ tốc độ cao, cho phép máy ảnh có được tốc độ cửa trập cao bằng cách liên tục nháy đèn flash ở một công suất đèn flash nhỏ. Bằng cách bật tính năng đồng bộ tốc độ cao, bạn sẽ có thể chọn một tốc độ cửa trập cao khi bạn chụp có gắn đèn flash Speedlite bên ngoài. (Người trình bày: Koji Ueda)   Làm Sáng Đối Tượng trong khi 'Làm Đóng Băng' Chuyển Động Để chụp một cuộc đua xe đạp, gồm có những chuyển động lên xuống mạnh của xe và những khởi đầu đột ngột, cần có tốc độ cửa trập cao. Trong ví dụ bên dưới, tôi muốn chụp sự thể hiện của vận động viên khi nhấn mạnh các tia nước bắn, do đó tôi sử dụng tính năng đồng bộ tốc độ cao và đặt tốc độ cửa trập thành 1/800 giây. Với chế độ đèn flash của đèn Speedlite được đặt thành E-TTL, tôi nháy đèn flash với đầu phát nhắm vào đối tượng. Thời tiết hôm chụp không ổn định với lúc thì nắng lúc thì có mây, do đó tôi chọn Aperture-priority AE để cố định giá trị khẩu độ và kiểm soát phơi sáng. EOS-1D Mark IV/ EF24-105mm f/4L IS USM/ Aperture-priority AE (1/800 giây, f/4.5, -0,3EV)/ ISO 400/ WB: Auto/ Speedlite 580EX II (E-TTL, bù phơi sáng: -0,3EV, High-speed Sync)Người chụp: Takahito Mizutani     Thủ Thuật Có được mức phơi sáng ổn định bằng cách cố định giá trị khẩu độ Sử dụng tính năng đồng bộ tốc độ cao để có được tốc độ cửa trập cao   Điều Kiện Chụp Bầu trời hơi u ám với những thay đổi mạnh về phơi sáng. Dưới ánh nắng trực tiếp, bóng râm mạnh che lên vận động viên, làm cho khuôn mặt trở nên tối trong ảnh được chụp ở phơi sáng tiêu chuẩn. Khi mây che khuất mặt trời, kết quả là ảnh ít có tác động và có độ tương phản thấp. Để giải quyết các vấn đề này, tôi sử dụng đèn flash. Vị Trí Của Đối Tượng, Máy Ảnh Và Đèn Speedlite A: Xấp xỉ 4m       Chụp Bướm với Tính Năng Đồng Bộ Tốc Độ Cao Tôi sử dụng đèn flash để tái tạo màu vàng sống động của chú bướm đang hút mật của hoa cúc zinnia. Chú bướm có vẻ bị nhòe ở tốc độ cửa trập mà đèn fash có thể đồng bộ, do đó tôi sử dụng đồng bộ tốc độ cao. Chế độ phơi sáng của máy ảnh được đặt thành Manual, và tốc độ cửa trập và giá trị khẩu độ lần lượt được đặt thành 1/800 giây và f/11. Khi áp dụng đồng bộ tốc độ cao ở đối tượng đang chuyển động, bạn nên đặt nền sau ở mức giảm phơi sáng một chút. EOS 10D/ EF15mm f/2.8 Fisheye/ Aperture-priority AE (1/800 giây, f/11)/ ISO 200/ WB: Daylight/ Speedlite 550EX (E-TTL, High-speed Sync)Người chụp: Kazuo Unno Thủ Thuật Có được tốc độ cửa trâp cao với đồng bộ tốc độ cao Đặt máy ảnh ở mức phơi sáng giảm một chút   Điều Kiện Chụp Một chú bướm bay từ hoa này sang hoa khác đi tìm mật. Vào một ngày hơi nhiều mây, chụp ảnh chỉ bằng ánh nắng sẽ làm cho chú bướm bị thiếu sáng, và không thể tái tạo màu sắc của nó như mong muốn. Tôi muốn nháy đèn flash để giải quyết vấn đề này, nhưng chọn tốc độ cửa trập nhanh nhất mà đèn flash bình thường có hỗ trợ sẽ khiến cho đối tượng bị nhòe. Vị Trí Của Đối Tượng, Máy Ảnh Và Đèn Speedlite A: Xấp xỉ 0,15m     Các Bước Sử Dụng Đồng Bộ Tốc Độ Cao 1. Chọn Một Ống Kính   Chọn một ống kính có khẩu độ tối đa sáng nếu bạn muốn sử dụng hiệu ứng bokeh lớn trong ảnh.     2. Chọn Chế Độ Đồng Bộ Tốc Độ Cao   Nhấn nút Đồng bộ tốc độ cao/Đồng bộ màn trập. Để sử dụng tính năng đồng bộ tốc độ cao, chỉ cần nhấn nút này trên đèn flash. Đối với các đèn flash không có nút này, chọn [Flash control (Điều chỉnh đèn flash)] trong trình đơn của máy ảnh, và thay đổi thiết lập đồng bộ cho đèn flash ngoài.     3. Chọn Một Chế Độ Chụp Trên Máy Ảnh   Xoay Bánh Xe Điều Chỉnh Chế Độ trên máy ảnh để chọn một chế độ chụp Chọn Tv nếu bạn chú trọng tốc độ cửa trập, và Av nếu bạn muốn tạo ra hiệu ứng bokeh.     4. Đặt Giá Trị Khẩu Độ Và Tốc Độ Cửa Trập   Đặt tốc độ cửa trập và giá trị khẩu độ theo biểu đạt mong muốn.     Koji Ueda Sinh năm 1982 tại Hiroshima, Ueda bắt đầu sự nghiệp với vị trí trợ lý cho nhiếp ảnh gia Shinichi Hanawa. Sau đó anh trở thành nhiếp ảnh gia tự do, và hiện nay tham gia nhiều công việc khác nhau từ tạp chí đến quảng cáo trong khi chụp ảnh tại các thành phố và phong cảnh khác nhau trên khắp thế giới. Anh cũng là một nhà văn và giảng viên tại các lớp học và hội thảo về nhiếp ảnh.

Chỉnh nét bằng tay trên máy ảnh DSLR

Bên cạnh lấy nét tự động (AF), lấy nét thủ công (manual focus hay MF) là một tính năng khác mà người dùng cần lưu ý, sẽ đặc biệt hữu ích trong một số trường hợp như chụp ảnh đặc tả chi tiết nhỏ (macro) với côn trùng, động thực vật hoặc chụp ảnh sản phẩm. Vậy làm thế nào để sử dụng lấy nét thủ công đối với các máy ảnh DSLR? Chi tiết có thể tham khảo tại video dưới đây: https://www.youtube.com/watch?v=bi44IXA4th8

Hiểu về cửa trập và khẩu độ máy ảnh bằng nguyên lý bập bênh

Một cái bập bênh có liên hệ gì với nhiếp ảnh? Bài viết này sẽ giúp bạn hiểu về mối quan hệ giữa tốc độ cửa trập và khẩu độ. Trước hết, hãy nhìn vào mối quan hệ giữa khẩu độ và màn trập. Trong biểu đồ này, bạn có thể thấy các trị số khẩu độ ở phía bên trái và tốc độ cửa trập ở bên phải. Với mỗi khoảnh khắc chụp ảnh, máy ảnh cần thu được một lượng sáng nhất định để ảnh đạt được độ phơi sáng chính xác. Trong ví dụ này, một trị số khẩu độ (f-number) cao sẽ cho lượng ánh sáng đi vào là rất ít, và do đó cửa trập cần phải mở ra lâu hơn để nhận đủ ánh sáng cho một bức hình đẹp. Nhưng trị số khẩu độ và tốc độ cửa trập không phải là các thông số duy nhất để đạt được một bức hình có độ sáng chuẩn. Chụp cùng một cảnh như bức ảnh phía trên, chúng ta có thể chỉnh tốc độ cửa trập tới tùy chỉnh cao nhất. Điều này khiến ánh sáng có rất ít thời gian để đi vào máy ảnh. Do đó, để có thể nhận được độ phơi sáng chuẩn, khẩu độ cần phải lớn hơn trước để cho phép thêm ánh sáng đi vào máy ảnh. Với một độ phơi sáng cụ thể, tốc độ cửa trập và khẩu độ nằm ở hai bên của một chiếc bập bênh. Một trong các chế độ mà bạn có thể sử dụng là Ưu tiên Khẩu độ (Apeture Priority). Với chế độ này, bạn sẽ chọn khẩu độ và máy ảnh sẽ chọn tốc độ cửa trập cần thiết để đạt được độ phơi sáng chuẩn. Và camera sẽ sử dụng khái niệm "bập bênh" như ở trên để có thể thực hiện điều này. Một chế độ khác là Ưu tiên Cửa trập (Shutter Priority). Ngược lại với Ưu tiên Khẩu độ, bạn sẽ chọn tốc độ cửa trập và máy ảnh sẽ tự động chọn khẩu độ phù hợp. Cũng như trên, máy ảnh sẽ phải dùng khái niệm bập bênh để chọn được khẩu độ chính xác cho độ phơi sáng chuẩn. Cửa trập mở và đóng để cho phép ánh sáng đi vào camera. Dĩ nhiên, cửa trập mở càng lâu thì ánh sáng đi vào càng nhiều. Các tốc độ cửa trập phổ biến là 1 giây, 1/2 giây, 1/4 giây, 1/8 giây, 1/15 giây/ 1/30 giây, 1/30 giây, 1/60 giây và 1/125 giây. Các máy ảnh hiện đại có thêm nhiều tốc độ cửa trập khác nhau, một số còn có thể đạt tốc độ 1/4000 giây. Nếu máy ảnh của bạn có chế độ kiểm soát Bù Phơi sáng (Exposure Compensation), chế độ này sẽ giúp bạn nhận được bức ảnh có độ sáng đúng như mình mong muốn: giả sử máy ảnh sử dụng tùy chỉnh mặc định và không có được độ phơi sáng như mong muốn, bạn có thể sử dụng chế độ Bù Phơi sáng để chỉnh lại cho phù hợp. Hãy thêm vào một số EV âm để tạo ra ảnh tối hơn, hoặc một số EV dương để làm nó sáng hơn. Vùng ảnh rõ (Depth of Field) có thể được điều khiển bởi tùy chỉnh khẩu độ. Khẩu độ càng nhỏ vùng ảnh rõ bạn nhận được sẽ càng nhỏ. Khẩu độ càng lớn thì vùng ảnh rõ càng lớn. Ví dụ này sẽ cho thấy khẩu độ rất cao (ít ánh sáng đi vào máy hơn), giúp tạo ra vùng ảnh rõ lớn hơn. Nói chung khi chụp ảnh chân dung thì bạn sẽ muốn vùng ảnh rõ nhỏ hơn (khẩu độ nhỏ hơn). Bạn sẽ muốn người mẫu được hiện rõ trên ảnh với vùng nền mờ xung quanh. Khi bạn chụp các bức ảnh thiên nhiên, bạn sẽ muốn vùng DOF lớn hơn, với khẩu độ lớn hơn. Khi bạn muốn điều chỉnh vùng ảnh rõ, bạn nên chọn chế độ Ưu tiên Khẩu độ. Các con số ISO đến từ thời kỳ máy ảnh phim: ISO 100 được dành cho cảnh ngoài trời sáng, ISO 400 cho cảnh ngoài trời và trong nhà, trong khi ISO 800 và ISO 1600 cho các điều kiện thiếu sáng. Một số máy ảnh cho phép thay đổi ISO theo cùng một cách. Với máy ảnh số, ISO là độ nhạy sáng của cảm biến. ISO càng thấp thì cảm biến sẽ càng ít nhạy sáng. Mối quan hệ "bập bênh" của tốc độ cửa trập và khẩu độ vẫn giữ nguyên, song ISO sẽ làm thay đổi khoảng phơi sáng của bức ảnh. Vấn đề đối với các mức ISO cao của máy ảnh số (cũng như các cuộn phim có ISO cao) là ảnh sẽ xuất hiện nhiều nhiễu. Do đó, chúng ta thường sử dụng ISO thấp nhất để tạo ra độ phơi sáng tốt nhất. Khi nào thì chúng ta nên sử dụng ISO cao? Sử dụng ISO cao trong trường hợp chụp thiếu sáng, khi mà tốc độ cửa trập của bạn thấp tới mức rung nhẹ camera sẽ làm hỏng toàn bộ bức ảnh. Sử dụng ISO cao hơn cho phép sử dụng khẩu độ thấp hơn để có vùng ảnh rõ (DOF) lớn hơn. Trong bức ảnh này ISO đã được giảm xuống (song mối quan hệ bập bênh vẫn giữ nguyên). Sự khác biệt duy nhất là cảm biến của máy ảnh cần thêm ánh sáng để có bức ảnh tốt nhất. Như đã nói ở trên, ở ISO thấp, chúng ta gặp ít nhiễu hơn. Vignette là hiện tượng bóng được tạo ra trên cạnh ngoài của ống kính. Đây là một hiện tượng không mong muốn khi bạn sử dụng kính lọc hoặc ống kính add-on. Bạn có thể crop hình để xóa vignette. Trong ví dụ này ống kính có các đường ren dày 49mm. Một kính lọc tia cực tím (UV) 49mm và một kính lọc phân cực 49mm được gắn thêm. Như bạn đọc có thể thấy, hiện tượng vignette xảy ra trên bức hình này. Với trường hợp này, sử dụng khoen tăng dần (step-up ring) 49-55mm và các kính lọc 55mm có thể giải quyết được vấn đề vignette. Gia Cường

Sử dụng 9 hiệu ứng giúp chụp ảnh đẹp hơn

    Sử dụng 9 hiệu ứng giúp chụp ảnh đẹp hơn Ngoài lý thuyết nhiếp ảnh, bạn dùng thêm các độc chiêu về hiệu ứng giúp ảnh chụp đẹp hơn nhiều Sự lợi hại của ánh sáng trong nhiếp ảnh Nội dung ảnh là điều kiện để người xem bộc lộ cảm xúc nhưng điểm khiến người xem bị thu hút lại chính là những hiệu ứng ánh sáng lạ mắt mà tác giả sử dụng trong tác phẩm nhiếp ảnh. Thêm hiệu ứng “Lens Flare” Hiệu ứng Lens Flare cho hình ảnh lưu linh hơn Hiện tượng Lens Flare (lóe sáng) xuất hiện khi lựa chọn góc chụp ngược sáng. Khi có ánh sáng trực tiếp đi vào ống kính, ta sẽ được hình ảnh nhiễm sáng. Lúc này bức ảnh sẽ thiếu độ tương phản và mất độ trong của hình ảnh nhưng bù lại, hiệu ứng Lens Flare lại tạo cho hình ảnh có cảm giác thơ mộng, lung linh, hấp dẫn mắt nhìn. Tạo không khí huyền ảo với khói bụi, sương mù Lựa chọn thời điểm có sương mù hay thêm khói sẽ giúp hình ảnh bắt mắt hơn Để tạo tâm trạng và cảm xúc cho bức ảnh đừng quên thử nghiệm với sương mù buổi sáng hay một chút khói nhân tạo. Đây là một trong những “chất liệu” thường xuyên được khai thác trong nhiếp ảnh và điện ảnh, vừa giúp xóa bối cảnh rối xung quanh cho hình ảnh “sạch sẽ” và tập trung hơn, đồng thời mang lại cảm giác mờ ảo, huyền bí. Sử dụng kỹ thuật Low key Ảnh chụp với kỹ thuật Low key ấn tượng hơn so với cách chụp thông thường Kỹ thuật chụp ảnh Low key là sự kết hợp của ánh sáng và “sự loại bỏ”. Phong cách này sử dụng màu tối để truyền đạt thông tin, giúp hình ảnh ấn tượng hơn so với cách chụp thông thường. Chụp ảnh Low key có thể chụp vào ban ngày, ngoài trời hay trong nhà và phòng chụp, quan trọng là phải có 1 chiếc đèn chiếu sáng để làm nổi bật các chi tiết cần thể hiện trên nền tối đen. Không lấy nét vào chủ thể  Không lấy nét vào nhân vật những vẫn thể hiện được cảm xúc trong ảnh Bạn có thể lấy nét vào bất kỳ chi tiết nào trong hình trừ nhân vật chính, điều này sẽ mang lại cho hình ảnh cảm giác thơ mộng và huyền bí. Kỹ thuật chụp những bức hình như vậy khá đơn giản, chỉ cần chọn khẩu độ mở lớn và lấy nét vào một chi tiết nào đó trong hình có khoảng cách xa từ 2-5m so với chủ thể chính. Chụp quá sáng Chụp quá sáng với hình ảnh có phông nền đơn sắc, ít chi tiết Những bức ảnh đúng sáng luôn là tiêu chuẩn để đánh giá màu sắc và sự chính xác của hình ảnh. Trong khi những bức ảnh quá sáng thường làm mất chi tiết và sai sắc độ của hình ảnh. Nếu chụp thử những hình ảnh có phông nền đơn sắc, chủ thể không quá nhiều chi tiết bạn có thể nhận ra việc chụp hình quá sáng trong trường hợp này mang lại hình ảnh vô cùng ấn tượng, mang cảm giác tươi mới và sáng chói. Sử dụng khẩu độ lớn Khẩu độ mở lớn giúp lấy nét tập trung hơn vào chủ thể Độ nông trường ảnh hẹp và hiện tượng phông nền bokeh là một trong những tính chất tạo nên một bức ảnh mang cảm xúc thơ mộng, được tạo nên khi sử dụng ống kính có độ mở lớn như f/1.4; f/1.8; f/2… Ngoài ra, sử dụng khẩu độ lớn còn giúp chủ thể được nổi bật và xóa mềm phông nền rối. Hiệu ứng ánh sáng Ánh sáng chếch ngược tạo độ tương phản cao Chú ý và vận dụng những cách chiếu sáng khác nhau để mang cảm xúc và sự hấp dẫn của hình ảnh. Các góc chiếu sáng thường sử dụng trong nhiếp ảnh gồm, ánh sáng thuận, ngược sáng, chếch thuận, chếch ngược, sáng bên, tản đều. Trong đó, các loại ánh sáng thuận và tản đều sử dụng chiếu sáng để tạo cảm giác mềm mại cho bức ảnh, ánh sáng ngược và chếch ngược có thể vẽ đường nét chủ thể, tạo sự tương phản sáng tối mạnh mẽ trong hình. Hiệu ứng chuyển động Chụp chuyển động với tốc độ màn trập chậm Chuyển động mờ với tốc độ màn trập chậm, chụp lia máy hay nháy đèn flash liên tục khi chụp chuyển động với tốc độ chậm có thể mang lại những bức ảnh độc đáo, ngoài chí tưởng tượng của bạn. Bởi khi đó, những đường di chuyển của chủ thể tạo hình mờ ảo hay một vệt sáng dài còn chủ thể vẫn nét căng, mang lại cảm giác “động” cho hình ảnh. (Lưu ý, khi chụp tốc độ châm nên sử dụng chân máy). Ảnh màu và đen trắng  Ảnh đen trắng mang ngôn ngữ khác biệt so với cuộc sống thực đầy màu sắc Trong khi nhiếp ảnh màu thể hiện cuộc sống với đầy màu sắc và thể hiện đủ loại tâm trạng khác nhau, dễ dàng đưa cảm xúc đến người xem… thì nhiếp ảnh đen trắng thể hiện cảm xúc qua sắc đen, xám, trắng là những màu sắc mạnh mẽ, sang trọng, vượt thời gian, mang ngôn ngữ khác biệt so với cuộc sống thực đầy màu sắc để thể hiện cái đẹp và tâm trạng ẩn chứa, e ấp…  Phạm Hải Đăng