Bản tin

Cách chụp một bức ảnh có chiều sâu

Trong nhiếp ảnh có “Luật xa gần”, Một khi nắm bắt và hiểu rõ về luật này, hay nói dễ hiểu hơn là về phối cảnh, những tác phẩm của bạn trông không chỉ có chiều sâu, mà còn rất có hồn. Phối cảnh đường thẳng Đây là loại phối cảnh mà bạn sẽ thường gặp nhất trong đời sống, và cũng là loại dễ thực hành nhất. Điểm nhấn của tấm ảnh sẽ là hai bên lề của con đường, tốt nhất bạn nên đưa hai đường song song này vào giữa khung hình để tạo điểm nhấn. Cố gắng lấy nét ở vô cực, để khẩu nhỏ, và đừng để những đối tượng khác như xe cộ hay người qua lại lọt vào khung hình gây rối mắt. Kết quả là bạn sẽ có một con đường dài hun hút như xoáy sâu vào thị giác người xem vậy. Nói cách khác, những bức ảnh kiểu này rất dễ tạo ấn tượng mạnh, do nó khiến người xem có ảo giác về không gian. Ảnh: Ben Fredericson. Để chụp những tấm hình kiểu này, tốt nhất bạn nên sử dụng những lens góc rộng. Loại ống kính này sẽ làm tăng cảm nhận về độ sâu của bức ảnh, do nó có khả năng xóa nhòa ranh giới giữa tiền cảnh và hậu cảnh bằng cách nhấn mạnh vào điểm cuối tấm hình, nơi gặp nhau của hai đường thẳng. Nếu bạn dùng những ống kính tele, góc hẹp, mọi chuyện sẽ khó khăn hơn một chút do thế mạnh loại lens này là DOF nông, nó chỉ lấy nét tại một vùng, mà không tạo được sự kết nối, liền mạch, và có độ nét thông suốt giữa tiền cảnh và hậu cảnh như các lens wide. Ảnh: Bas Lammers. Các bức ảnh dưới đây được chụp bằng lens góc rộng 18mm, và bạn có thể thấy người chụp vừa thể hiện được đầy đủ những chi tiết cần thiết, nhưng vẫn tạo được điểm nhấn, và độ sâu cho tấm hình mà không hề bị rối mắt. Ngoài ra góc độ chụp cao hay thấp cũng ảnh hưởng nhiều tới kết quả, bạn hãy tự mình trải nghiệm để tìm ra kỹ thuật chụp nào hợp gu của mình nhất. Ảnh: …-Wink-… . Phối cảnh kiểu thu nhỏ Loại phối cảnh này tương đối giống với kiểu đường thẳng ở chỗ cả hai cùng thể hiện cái nhìn xa xăm, với một đường thẳng chứa các chủ thể ngày càng xa vời và nhỏ bé dần. Nếu bạn định chụp một con đường vắng vẻ vào buổi tối với hai hàng đèn đường lạnh lẽo mỗi bên thì rất nên lưu ý tới kiểu bố cục này. Bạn nên đặt hai hàng cột thẳng hàng vào tiền cảnh để tạo điểm nhấn, càng ra xa những chiếc đèn càng nhỏ đi, và cho tới cuối khung hình ta chỉ nhận ra những chấm nhỏ lờ mờ. Bạn phải chú ý, điểm nhấn của loại bố cục này là một hàng/dãy các vật thể cứ bé dần đều, chúng rõ nét ở tiền cảnh, và càng tiến về hậu cảnh càng mờ nhạt dần, đó chính là sự khác biệt cơ bản so với phối cảnh kiểu đường thẳng. Ảnh: Giovanni Orlando. Một điểm lưu ý nữa khi định áp dũng kỹ thuật này là các chủ thể phải đồng nhất, tốt nhất là cùng một loại về màu sắc, hình dạng và kích cỡ như các tấm hình bên dưới. Sở dĩ phải để tâm đến điều này bởi thị giác con người chỉ bị thu hút khi các vật thể có cùng kích thước nhưng khác nhau về khoảng cách. Làm tốt bố cụ loại này bức ảnh của bạn sẽ rất “tâm trạng” và có chiều sâu. Ảnh: paul bica. Một trường hợp khác cũng rất nên áp dụng phối cảnh thu nhỏ là khi chụp cầu thang từ trên xuống, nhất là dạng xoắn ốc. Nếu gặp dạng này, bạn hãy đứng từ vị trí cao nhất có thể, và tưởng tượng ra một đường thẳng ở tâm của hình xoắc ốc, nhớ là đường thẳng đứng, vuông góc với mặt đất chứ không phải đường nằm ngang. Khi đó, càng xoáy sâu xuống bên dưới thì cảnh vật càng thu nhỏ lại, và ta có cảm giác hệ cầu thang đồ sộ này sẽ mất hút tại một điểm nằm ở tâm bức hình. Nói một cách dễ hiểu, bạn chọn điểm giao cắt của đường thẳng bên trên với mặt đất là điểm lấy nét, và nhấn nút chụp. Ảnh: . SantiMB . Ảnh: Marcel Germain. Phối cảnh trên không Hiện nay rất nhiều người ưa dùng phối cảnh này khi chụp ảnh phong cảnh, đặc biệt là ở những nơi rộng rãi, có nhiều mây khói hoặc sương mù ở phía xa. Chụp ảnh trong những điều kiện thời tiết như vậy không những tạo được điểm nhấn về hình dạng của chủ thể, mà còn đưa thêm hiệu ứng về chiều sâu cho người xem. Đối tượng gần ống kính máy ảnh nhất sẽ hiện lên sẽ rất đậm nét, thậm chí có phần hơi bão hòa màu, tuy nhiên càng ra xa mọi thứ càng trở nên mờ ảo cũng như nhẹ nhàng hơn nhiều. Ảnh: Éole Wind. Khi nhìn một bức ảnh chụp theo phong cách này, bạn sẽ có cảm giác nó được tạo nên bởi nhiều lớp khác nhau, hệt như một tác phẩm tranh vẽ. Chính sự tương phản rõ rệt về màu sắc và độ nét của phần tiền cảnh và hậu cảnh đã tạo nên điều này. Thông thường khi xem một tấm ảnh loại này, đôi mắt sẽ bị thu hút trước tiên bởi phần rõ nét và có màu sắc nổi bật ở gần, sau đó mới đến phần phía sau. Vì là ảnh chụp phong cảnh nên thường sẽ chỉ có một màu sắc chủ đạo duy nhất, tuy nhiên sự khác biệt lớn về độ tương phản được tao nên bởi các tia sáng bị khúc xạ khi đi qua từng cao độ khác nhau của khí quyển đã tạo nên một hiệu ứng vô cùng đẹp mắt. Ảnh: James Jordan. Nếu bạn là người yêu thích hội họa, phối cảnh kiểu này đã từ lâu là một trong những chuẩn mực kinh điển. Tuy nhiên, với nhiếp ảnh thì các tay máy mới chỉ thực sự đào sâu tìm hiểu và khám phá chúng trong thời gian gần đây. Để chụp tốt loại này, bạn trước tiên cần chú ý đến hai yếu tố khách quan là ánh sáng và thời tiết. Không có một chuẩn mực nào để ta có thể đem ra như một công thức chung, nhưng bạn nên xem xét căn chỉnh kĩ để có một shot hình ưng ý nhất mà không phải qua hậu kỳ nhiều. Để có được kết quả tốt nhất, bạn nên sử dụng loại ống kính có tiêu cự dài (tele) vì khả năng tạo điểm nhấn cho chủ thể ở gần máy ảnh tốt hơn nhiều so với loại ống kính góc rộng. Dùng lens kiểu này phần tiền cảnh sẽ được làm nổi bật hẳn lên so với phần hậu cảnh ở xa có sương khói mù mịt. Một lưu ý nữa là lens tele khi zoom xa thường bị nhòe và rung, do đó bạn nên mang theo một tripod để đảm bảo tác phẩm của mình có độ sắc nét tối đa. Ảnh: Marcel Germain. Khoảng thời gian tốt nhất trong năm để bạn thực hành kiểu phối cảnh này là những ngày mùa đông nhiều sương mù, nhưng nếu “trình” cao thì bạn có thể chơi được cả vào mùa hè, mỗi khi trời vừa mưa rào xong. Ngoài ra, còn có một lưu ý nữa về mặt kỹ thuật là về độ phơi sáng, thường thì trong những điều kiện như trên ảnh thường bị tối, và khá ảm đạm, nhưng nếu biết cách áp dụng một vài chiêu để chọn điểm khóa sáng thích hợp, bạn hoàn toàn có thể đánh lừa cảm biến của máy ảnh và tạo ra những tấm hình tươi tắn cân đối hơn đời thực nhiều. Ngoài ra, tốt nhất bạn nên đưa máy ảnh về chế độ chỉnh tay hoàn toàn (mode M) để có thể toàn quyền can thiệp về khẩu, tốc, ISO thì mới có kết quả hoàn chỉnh được. Ảnh: coyote-agile. Độ sâu trường ảnh Đây là khái niệm không còn quá xa lạ hay khó hiểu với đa số những người yêu thích chụp ảnh. DOF (depth of field) ảnh hưởng trực tiếp đến độ sắc nét của chủ thể và độ mờ của phần hậu cảnh/tiền cảnh. Não của chúng ta thường tiếp nhận thông tin về chủ thể ở gần cũng nghĩa là vật rõ nét nhất trước tiên, sau đó mới tới các phần ở xa hơn. Càng ra xa khung cảnh càng mờ và làm nền cho vật thể ở gần nổi bật hơn, đó là những gì thuộc về thị giác, chứ không chỉ của nhiếp ảnh. Ảnh: Dustin Diaz. Hãy thử tưởng tượng khi bạn đang chụp chân dung một người đứng trước một bức tường gạch, ở khẩu độ f/2,8 và lấy nét vào khuôn mặt. Lẽ dĩ nhiên, người đó trông chỉ nét hơn bức tường phía sau đôi chút. Bây giờ, chỉ cần anh/cô ấy đứng xa bức tường kia vài bước chân, vẫn giữ nguyên các thông số và điểm lấy nét, kết quả sẽ hoàn toàn khác. Phần hậu cảnh sẽ trở nên mờ hơn nhiều, bạn càng tăng khoẳng cách thì độ mờ càng lớn. Kết quả là bức hình sẽ làm người xem liên tưởng đến người trong bức hình ở rất xa bức tường kia và họ sẽ chỉ chú tâm vào chủ thể và không bị phân tâm vào phần background, dù sự thực không đến nỗi như vậy. Đây là minh chứng tiêu biểu cho khả năng “đánh lừa” thị giác tuyệt vời của máy ảnh khi bạn biết cách áp dụng. Tạo khung cho ảnh Rất đơn giản! Tất cả những gì bạn cần làm chỉ là tận dụng những gì có quanh mình để làm nên một chiếc khung ngay trong tấm hình cho vật bạn chọn làm chủ thể. Tuy dễ hiểu và không khó khăn gì để áp dụng, nhưng hiệu quả của phương pháp này đem lại là rất lớn. Bạn không chỉ tạo được điểm nhấn, mà dường như còn đang vẽ ra một con đường dẫn dắt người xem đến với trọng tâm của tác phẩm. Chính điều này khiến tấm hình trở nên gọn gẽ và có chiều sâu hơn rất nhiều. Ảnh: Trey Ratcliff. Kết luận Bạn thấy đấy, những kiểu bố cục, phối cảnh như trên cũng tương đối dễ hiểu và áp dụng đấy chứ. Nhưng điều quan trọng nhất cho một bức ảnh đẹp vẫn là một con mắt nghệ thuật, biết nắm bắt chính xác thời điểm và phối hợp hài hòa các nguồn sáng. Một khi làm chủ được ánh sáng, bạn sẽ dễ dàng phối các kỹ thuật trên với nhau và tạo ra một tuyệt phẩm để đời cũng nên.     Nguồn tin: Genk

Cài đặt thông số trên DSLR của Canon

Để sử dụng hết nhiều tính năng đa dạng trên EOS 6D, điều quan trọng là tìm hiểu cách sử dụng "Quick Control (Điều Chỉnh Nhanh)", cho phép bạn nhanh chóng thay đổi các thiết lập. Ở bài sau đây, tôi sẽ giải thích các bước thay đổi bằng Quick Control, và các thiết lập chính có thể điều chỉnh Màn hình Quick Control trong khi chụp bằng khung ngắm Exposure compensation/AEB setting Picture Style Cân bằng trắng Auto Lighting Optimizer Custom Controls Thao tác AF Lựa chọn điểm AF Chế độ truyền động Chế độ đo sáng Chất lượng ghi hình Độ nhạy sáng ISO   Nhấn nút Quick Control (Điều Chỉnh Nhanh) sẽ mở màn hình ở bên trái. Đây là cách nhanh nhất để truy cập các thiết lập cân bằng trắng.   Điều Chỉnh Nhanh trong khi Chụp Ở Chế Độ Live View FL: 50mm/ Aperture-priority AE (1/500 giây, f/8, -0.3EV)/ ISO 100/ WB: Auto   Trong khi chụp ở chế độ Live View, các biểu tượng xuất hiện ở hai bên ảnh, trong khi các thiết lập của tính năng đã chọn được hiển thị ở dưới cùng của màn hình. Nếu không tìm thấy một tính năng ở đây, bạn sẽ phải truy cập nó từ trình đơn này.   Quick Control để thay đổi thiết lập nhanh Tính năng “Quick Control” (Điều Chỉnh Nhanh) cung cấp một giao diện hữu ích để xem hoặc thay đổi danh sách các thiết lập chụp chính. Nó gồm có các hạng mục được sử dụng thường xuyên nhất, nói chung là đủ để chụp các cảnh. Tính năng này rất dễ sử dụng. Chỉ cần di chuyển khung đến tính năng bạn muốn chọn, sau đó chọn một thiết lập. Với tính năng này, bạn không phải lo về việc lúng túng với nhiều trình đơn, hay lúng túng với các thao tác nút. Bằng cách sử dụng như một “cổng nối” đến các thiết lập, ngay cả các tính năng có vẻ phức tạp trước đây cũng sẽ trở nên trực quan hơn. Sử dụng bốn nút ở trên đỉnh. Cũng có các nút dành riêng cho các tính năng thường được sử dụng. Xác định có sử dụng các nút dành riêng này, hoặc tính năng Quick Control (Điều Chỉnh Nhanh) hay không tùy theo cảnh Thiết lập Quick Control trong khi chụp bằng khung ngắm 1.Nhấn nút Điều Chỉnh Nhanh   Nhấn nút Quick Control (Điều Chỉnh Nhanh) ở trạng thái sẵn sàng chụp sẽ mở ra màn hình Quick Control. Ví dụ ở đây cho thấy màn hình ‘Creative Zone’.     2.Lựa chọn một hạng mục bằng nút Đa Điều Khiển   Sử dụng nút Đa Điều Khiển để chọn một tính năng. Tính năng đã chọn sẽ được tô sáng bằng khung màu cam.     3.Xoay bánh xe để thay đổi thiết lập   Khi khung màu cam xuất hiện, xoay Bánh Xe Chính hoặc Bánh Xe Quick Control (Điều Chỉnh Nhanh) để chọn một thiết lập.     Thiết Lập Cân Bằng Trắng để Thay Đổi Màu Thay đổi thiết lập Cân Bằng Trắng để thay đổi màu của ảnh. Ngoài tùy chọn Auto, có các tùy chọn Cân Bằng Trắng cài đặt sẵn cho bạn chọn. Mỗi tùy chọn giống với nhiệt độ màu khác nhau của nguồn sáng.     Nắm rõ và thể hiện màu ánh sáng Điều chỉnh Cân Bằng Trắng (WB) để tái tạo màu sắc của đối tượng một cách trung thực. Màu của đối tượng thay đổi đáng kể tùy vào loại nguồn sáng. Tuy nhiên, bạn cũng có thể cố tình thay đổi cân bằng trắng để thay đổi ấn tượng của ảnh. Ví dụ như, đối với một ảnh trong nhà, một tông màu đỏ ấm sẽ mang lại tâm trạng vui vẻ, trong khi tông màu xanh mát thích hợp với không khí của cảnh sáng sớm. Bạn nên tự do biểu đạt màu sắc theo ý định nhiếp ảnh của mình. Auto Daylight     Shade Cloudy     Tungsten light White fluorescent light     Flash Trong menu cài đặt sẵn, cân bằng trắng được đặt thành màu chính xác theo loại nguồn sáng. Các ví dụ ở đây đều được chụp dưới ánh nắng. Màu sắc được tạo ra trung thực ở các thiết lập [Auto (Tự động)] và [Daylight (Ánh sáng ban ngày)], trong khi một thiết lập không khớp với loại ánh sáng xung quanh sẽ làm thay đổi sắc màu. Tuy nhiên, đặc điểm này có thể được sử dụng cố ý như một kỹ thuật biểu đạt nhiếp ảnh.   Picture Style Chọn Tùy Theo Đối Tượng     Tăng thêm vẻ quyến rũ Picture Style (Kiểu Ảnh) là một tính năng để tạo ảnh. Trong trường hợp là một bức tranh, việc chọn một hiệu ứng Picture Style có thể giống như chọn một bảng màu hay độ dày cọ. Một số tùy chọn cài đặt sẵn phù hợp với các cảnh khác nhau khả dụng trong trình đơn Picture Style, do đó bạn chỉ cần chọn một tùy chọn để làm nổi bật các đặc điểm của đối tượng. Ngoài ra, bạn cũng có thể chọn thiết lập [Auto (Tự động)] để máy ảnh tự động phân tích cảnh và tạo ra ảnh thích hợp nhất. Auto Standard     Portrait Landscape     Neutral Faithful     Monochrome Mỗi Picture Style (Kiểu Ảnh) có một thiết lập khác nhau cho tông màu và độ sắc nét. Trong ví dụ ở đây, bạn có thể thấy rằng việc sử dụng một Picture Style khác nhau tái tạo màu sắc của bầu trời, cây cỏ, và chiếc xe đỏ bằng một tông màu khác nhau. Bằng cách phóng đại ảnh thêm nữa, những khác biệt khác chẳng hạn như độ sắc nét và độ tương phản cũng trở nên rõ rệt.   Exposure Comp. Có thể điều chỉnh lên đến ±5EV     Tinh chỉnh độ sáng Bù phơi sáng có tác dụng điều chỉnh độ sáng của ảnh, do đó bạn có thể thay đổi ấn tượng của ảnh bằng cách điều chỉnh mức bù phơi sáng. Điểm chính cần ghi nhớ về độ sáng của ảnh là đảm bảo rằng nó giống với độ sáng như được thấy bằng mắt thường. Chức năng Auto Exposure (Tự Động Phơi Sáng) của máy ảnh đã được kết hợp dựa trên nguyên tắc cốt yếu này. Hỗ trợ một phạm vi bù phơi sáng rộng, EOS 6D không chỉ có thể tái tạo độ sáng thích hợp, bạn còn có thể tự do thay đổi độ sáng để tạo ra một ấn tượng rất khác biệt. Các ảnh high key và low key, một kỹ thuật biểu đạt nhiếp ảnh, cũng có thể được tạo ra bằng cách sử dụng tính năng bù phơi sáng. Do đó, thành thạo tính năng này sẽ giúp bạn mở rộng phạm vi biểu đạt. -3EV -2EV     -1EV ±0EV     +1EV +2EV     +3EV EOS 6D hỗ trợ bù phơi sáng lên đến ±5EV stops. Các ví dụ ở đây minh họa các ảnh với bù phơi sáng ở các khoảng tăng 1 stop, nhưng khoảng tăng nhỏ nhất có thể là 1/3 stop. Việc thực hiện bù phơi sáng sẽ làm thay đổi đáng kể độ sáng của toàn bộ ảnh, ngược lại nó làm thay đổi tông màu của đối tượng.     ALO (Auto Lighting Optimizer) Cân Bằng Các Điểm Sáng và Bóng Râm     Điều chỉnh ánh sáng và bóng râm Auto Lighting Optimizer (Trình Tối Ưu Sáng Tự Động) (ALO) là một tính năng để điều chỉnh sự khác biệt về độ sáng gây ra bởi ánh sáng. Tính năng này đặc biệt hiệu quả để điều chỉnh độ sáng của các bóng râm để tạo ra một ấn tượng tự nhiên. Nói chung, chụp ở điều kiện ánh nắng sáng có xu hướng dẫn đến các ảnh có độ tương phản cao với sự khác biệt lớn về độ sáng. Bằng cách sử dụng ALO, bạn có thể tạo ra các ảnh có mức tăng màu mịn hơn để làm mịn hình ảnh. Thiết lập mặc định là [Standard (Tiêu chuẩn)], nhưng bạn có thể đặt thành [High (Cao)] để nhấn mạnh sự khác biệt về độ sáng. Ví dụ như, để biểu đạt ánh nắng mạnh ở một nước nhiệt đới, tôi sẽ sử dụng [High] làm thiết lập cơ bản. Disable Low     Standard High   Sử dụng Auto Lighting Optimizer (Trình Tối Ưu Sáng Tự Động) sẽ thay đổi độ sáng của các khu vực bóng râm trong ảnh. Bạn có thể tinh chỉnh độ sáng của bóng râm đồng thời duy trì tông màu của các điểm sáng. Trong ví dụ này, hiệu ứng được thể hiện rõ nhất ở các khu vực tối của tòa nhà, như có thể thấy rõ từ các ảnh chụp bằng thiết lập [Disable (Tắt)] và [High (Cao)]. Chế Độ Vận Hành [Changing the Operation (Thay Đổi Vận Hành)] Chọn Chế Độ Cửa Trập     Cũng hiệu quả trong chống rung máy Trình đơn drive mode cho phép bạn đặt thao tác cửa trập, chẳng hạn như continuous shooting, silent shooting, và self-timer shooting. Đặc biệt quan trọng trên EOS 6D là chế độ [Silent single shooting (Chụp ảnh đơn không ồn)], chế độ này không chỉ cho phép nhả cửa trập không ồn, mà còn giảm rung có thể làm cho ảnh bị nhòe. Được trang bị cảm biến full-frame với độ phân giải khoảng 20,2 megapixel, EOS 6D có khả năng phân giải cao. Tuy nhiên, để nâng cao độ phân giải cao, cần chú ý đến việc tránh rung máy. Sử dụng một chế độ truyền động thích hợp có thể giúp bạn giảm rung máy, nhờ đó giảm thiểu khả năng nhòe ở các ảnh cầm tay. Nó cũng tiện lợi nhất là khi bạn sử dụng một ống kính không có tính năng Image Stabilizer (Ổn Định Hình Ảnh) (IS). Single shooting [Default (Mặc định)] Continuous shooting (Xấp xỉ 4,5 fps)     Silent single shooting Chọn chế độ truyền động thích hợp tùy theo đối tượng và môi trường chụp. Trong ví dụ ở đây, tôi chọn [Single shooting (Chụp ảnh đơn)] để chụp ảnh ngoài trời ở bên trái. Đối với địa điểm chụp yên tĩnh trong nhà, tôi chọn [Silent single shooting (Chụp ảnh đơn không ồn)] để tránh làm ảnh hưởng đến mọi người. Sử dụng chế độ [Continuous shooting (Chụp liên tục)] giúp dễ chụp các đối tượng chuyển động, chẳng hạn như chiếc xe điện trong ảnh giữa.     Thao Tác AF [Changing the Focusing Method (Thay Đổi Phương Pháp Lấy Nét)] Chọn tùy theo Chuyển Động của Đối Tượng     Dự đoán chuyển động của đối tượng Bạn có thể điều chỉnh thao tác AF theo chuyển động của đối tượng. [One-Shot AF (AF Một Tấm)], thiết lập mặc định, sẽ khóa vị trí lấy nét sau khi lấy nét. Ngược lại, chế độ [AI Servo AF] có hiệu quả theo dõi hoàn hảo. Nó cho phép bạn duy trì nét ở đối tượng, và do đó sẽ hữu ích để chụp các đối tượng chuyển động, chẳng hạn như chụp ảnh thể thao. [AI Focus AF] là sự kết hợp giữa [One-Shot AF] và [AI Servo AF], kích hoạt chế độ [One-Shot AF] khi đối tượng còn đứng yên, và chuyển thành [AI Servo AF] khi đối tượng bắt đầu di chuyển. Đối với các đối tượng có chuyển động bất ngờ, chẳng hạn như trẻ em hoặc động vật, nên dùng [AI Focus AF]. Do đó, để thành thạo các chế độ AF khác nhau, bạn cần phải học cách quan sát chuyển động của đối tượng. One-Shot AF [Default (Mặc Định)] AI Focus AF     AI Servo AF [One-Shot AF (AF Một Tấm)] thích hợp với các đối tượng tĩnh, chẳng hạn như tòa nhà trong ví dụ, trong khi [AI Focus AF] là chế độ thuận tiện để chụp các đối tượng có chuyển động bất ngờ, chẳng hạn như động vật. Để chụp một đối tượng chuyển động, hãy chọn [AI Servo AF].         Tác giả bài viết: Ryosuke Takahashi Nguồn tin: canon-asia.com

Chụp ảnh macro thế nào cho đẹp?

Khi lướt qua những bông hoa hoặc những con côn trùng lạ mắt, chắc hẳn bạn luôn muốn chụp vài bức ảnh. Kiểu chụp cận cảnh (macro) sẽ mang lại những bức ảnh đẹp có cảm xúc bất ngờ. Cho dù bạn đang sở hữu camera dSLR, camera bỏ túi hay camera trên smartphone, hãy thử áp dụng vài mẹo chụp ảnh macro dưới đây. Chế độ macro Bạn có thể chụp được những bức ảnh cận cảnh thực sự đẹp với hầu hết các camera nếu ghi nhớ một vài quy tắc. Và dưới đây là những gì bạn cần cần biết. Ảnh macro chụp từ camera của một chiếc iPhone Đầu tiên, tất cả các ống kính camera đều có một khoảng cách lấy nét tối thiểu. Bạn không thể vi phạm quy định này của ống kính, nếu bạn đặt ống kính quá sát đối tượng thì hình ảnh sẽ bị mờ. Ví dụ, ống kính của camera trên iPhone có khoảng cách lấy nét tối thiểu trong khoảng 5 đến 7,5 cm. Nếu đặt đúng khoảng cách này bạn sẽ không cần phải thực hiện thêm bất cứ thao tác đặc biệt nào để kích hoạt chế độ chụp cận cảnh. Mặt khác, nhiều camera bỏ túi sẽ không tự động lấy tiêu điểm khi bạn đặt ống kính gần đối tượng. Để chụp ảnh macro bạn cần phải kích hoạt chế độ chụp macro của camera bằng một nút hoặc menu thiết lập với biểu tượng hoa tulip. Chế độ macro sắp xếp lại ống kính của camera để lấy tiêu điểm rất gần, nhưng khi chụp xong bạn nhớ phải tắt nó đi bởi vì trong chế độ macro, camera sẽ không thể lấy tiêu điểm rõ nét vào đối tượng đang ở khoảng cách bình thường. Độ sâu trường ảnh – DOF Sự khác biệt lớn nhất giữa ảnh macro và ảnh chân dung/phong cảnh thông thường là ở DOF mà bạn tạo ra. DOF là khu vực trong bức ảnh của bạn mà mọi vật thuộc khu vực đó đều hiện ra sắc nét, thường nằm ở một khoảng phía trước và phía sau đối tượng chính của bạn. DOF trong các bức ảnh thông thường, ví dụ như khi bạn chụp cả gia đình đang đứng trước một bụi hoa hồng chẳng hạn, thì vùng DOF của ảnh sẽ cần rộng hơn để tất cả mọi người trong ảnh và cả bụi hoa đều được rõ nét. Với những bức ảnh như vậy, gần như bạn không phải quan tâm nhiều đến DOF, chỉ cần mọi thứ đều sắc nét là được. Khoảng cách giữa bạn và đối tượng có thể cách xa đến vài mét. Tuy nhiên khi chụp ảnh cánh hoa và côn trùng, vùng nét DOF có thể rất nhỏ, có khi chỉ bằng một vài centimet. Và khoảng cách giữa bạn và đối tượng cũng thu hẹp lại tương ứng. Khi chụp ảnh macro những bông hoa bạn sẽ thấy rõ DOF thực sự rất nhỏ Nếu bạn có một camera dSLR hoặc một camera bỏ túi đầy đủ chức năng, bạn có thể tối đa hoá DOF bằng cách thay đổi khẩu độ, khẩu độ f/16 hoặc f/22 tạo ra khoảng DOF lớn nhất. Nếu bạn chỉ có một chiếc smartphone hoặc một camera không thể thay đổi khẩu độ bạn hãy thử một cách khác đó là thiết lập camera hoặc smartphone sang chế độ chụp cận cảnh. Nó sẽ tự thay đổi khẩu độ để đạt được DOF tối ưu nhất có thể. Dù bằng cách nào đi nữa thì có một điều luôn đúng: Càng ở gần sát đối tượng mà bạn định chụp thì DOF càng nhỏ, và khi máy ảnh của bạn chỉ cách đối tượng vài centimet thì cũng đừng ngạc nhiên nếu DOF chỉ là một vùng nhỏ xíu. DOF không quan trọng nếu khoảng cách từ mọi thứ tới ống kính camera tương đương nhau Một giải pháp cho khó khăn này là bạn hãy chụp ảnh với một suy nghĩ trong đầu là DOF sẽ rất nhỏ, hãy tìm cách làm sao để vùng nét nằm ở vị trí bạn muốn. Nếu đối tượng của bạn trải rộng từ tiền cảnh tới hậu cảnh, chắc chắn sẽ có một vài phần của bức ảnh bị mờ. Nhưng nếu bạn thay đổi góc nhìn và chụp bức ảnh với đối tượng nằm vuông góc với ống kính – sao cho mọi phần của đối tượng đều có một khoảng cách bằng nhau so với ống kính máy ảnh, khi đó DOF sẽ trở nên ít quan trọng. Bạn sẽ có thể chụp bức ảnh lấy nét vào tất cả đối tượng. Kiểm soát độ rung của camera Ở khoảng cách chụp khá gần, một chút rung camera dù nhẹ cũng có thể giống như một trận động đất. Tốt nhất khi chụp macro bạn nên đặt camera trên giá đỡ tripod hoặc một số thiết bị hỗ trợ khác. Giá đỡ tripod cùng tấm che sẽ giúp ích rất nhiều cho bạn khi chụp ảnh macro Hiện tại cũng đã có những giá đỡ tripod cho iPhone hoặc smartphone khác. Ánh sáng Cuối cùng, phải nói thêm một chút về ánh sáng. Ánh sáng mặt trời trực tiếp không giúp tạo ra những bức ảnh cận cảnh thiên nhiên tuyệt vời, một phần vì trong bức ảnh cuối cùng của bạn sẽ có các biến thể của ánh sáng và bóng. Bạn sẽ chụp được những bức ảnh đẹp hơn với ánh sáng gián tiếp, có nghĩa là bạn nên chụp ảnh khi mặt trời đang bị mây che, hoặc chụp các đối tượng trong bóng râm. Khi chụp ảnh thiên nhiên bạn có thể mang theo thiết bị chắn sáng để giảm ánh sáng trực tiếp vào đối tượng. Bạn cũng có thể chụp ảnh vào thời điểm buổi sớm và chiều trong ngày khi ánh sáng mặt trời không chiếu trực tiếp trên cao xuống. Dù bằng cách nào đi nữa, bạn nên ghi nhớ tránh chụp ảnh khi ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp vào đối tượng bạn định chụp. Hoàng Kỷ

Áp dụng "quy tắc bàn tay trái" trong nhiếp ảnh

Khi nghe đến “Quy tắc bàn tay trái” chắc hẳn nhiều bạn sẽ nghĩ đến kiến thức Vật lý hồi trung học tuy nhiên trong bài viết này chúng tôi không đề cập đến quy tắc đó mà là một chút kinh nghiệm căn bản trong nhiếp ảnh bằng cách sử dụng bàn tay trái. Bài viết dưới đây được tham khảo từ Hocvieneos hy vọng có thể giúp bạn dễ dàng thuận tiện hơn mỗi khi chụp hình. Phần lớn trong chúng ta hiện nay đều thuận tay phải vì vậy các hãng sản xuất máy ảnh đều ưu tiên thiết kế các nút bấm, xoay chỉnh sang phía tay phải để giúp người chụp thao tác dễ dàng hơn. Bàn tay trái không phải đảm trách nhiều nhiệm vụ nhưng cũng có vai trò rất quan trọng. Đo sáng Bạn có thể dùng bàn tay trái của mình để đo sáng. Trong những ngày bầu trời nhiều mây rất khó để xác định nguồn sáng, tìm hướng bóng đổ để làm nổi khối. Nếu cứ bắt người mẫu phải xoay hết hướng này đến hướng khác để tìm sáng phù hợp nhất chắc sẽ khiến người tham gia chụp cảm thấy mệt mỏi và không thể có được bức hình đẹp. Trong trường hợp này rất đơn giản bạn chỉ cần đưa bàn tay trái ra phía trước và xoay các hướng, bạn sẽ nhìn thấy hướng sáng. Như trong hình bạn có thể thấy lòng bàn tay hướng sang phải sáng hơn hướng ngược lại, như vậy có thể xác định được hướng sáng giúp dễ dàng đặt máy và mẫu để chụp. Nếu chú ý tinh mắt hơn một chút bạn có thể thấy bóng đổ giữa kẽ tay, có thể biết được hướng nhiều bóng đổ nhất để chụp hình. Định nghĩa hướng sáng trong nhiếp ảnh Tìm hiểu góc chụp trong nhiếp ảnh Mở và cất nắp ống kính Một việc tưởng chừng rất đơn giản nhưng đây là thói quen mà chúng ta nên tập đó là mở và cất nắp ống kính. Nắp ống kính (cap) là vật rất dễ bị mất bởi chúng ta thường quên đi đã để đâu sau những phút giây chú tâm vào những bức hình. Bởi vậy hãy giao cho bàn tay trái nhiệm vụ này. Khi cầm máy, tay trái mở nắp ống kính nhưng đừng đặt nó lên bàn hay bãi cỏ mà hãy đút ngay vào túi. Một thao tác rất đơn giản nhưng sẽ giúp bạn tránh được việc phải đi mua cap mới đấy. Mở nắp ống kính Cho ngay vào túi quần bên trái Đo cân bằng trắng Cân bằng trắng là tính năng rất quan trong để có một màu da ưng ý khi chụp ảnh chân dung. Bình thường nhiều người trong chúng ta thường đưa máy lên để chụp mẫu rồi kiểm tra, nếu thấy màu da chưa ổn lại phải chỉnh để chụp lại đến khi ưng ý. Quá trình này sẽ khiến mất khá nhiều thời gian và công sức. Một cách đơn giản hơn là đưa bàn tay trái ra để chụp thử, màu da trong lòng bàn tay thường trắng tương đương da mặt nên có thể lấy làm chuẩn cân bằng trắng thật tốt trước khi tiến hành chụp. Tư thế cầm máy Cầm máy đúng cách sẽ giúp bạn tránh bị mỏi khi sử dụng những ống kính dài và nặng. Trường hợp dưới đây bạn có thể thấy trong khi bàn tay phải được rảnh rang để bấm máy thì tay trái lại phải đỡ toàn bộ khối lượng của máy và ống kính. Để giúp máy được vững và cố định tránh những rung động trong quá trình chụp, bạn hãy đặt tay theo như hình, toàn bộ tay cặp sát vào sườn máy để toàn bộ khối lượng của máy ở mu thịt phía trong bàn tay. Các ngón tay còn lại của bàn tay trái có thể thoải mái đình chỉnh zoom, xem lại độ sâu trường ảnh hay mở flashtheo máy. Với những máy ảnh sử dụng ống kính cực lớn, máy bắt buộc phải đặt trên tripod hay monopod. Bạn có thể xem cách đặt tay trong trường hợp này. Ống kính tele - ứng dụng và những điều cần lưu ý khi sử dụng Hướng dẫn sử dụng chân máy ảnh đúng cách Kiểm tra độ sâu trường ảnh Ở những dòng máy DSLR hiện nay đều có nút xem trước độ sâu trường ảnh, bàn tay trái sẽ có nhiệm vụ xem độ sâu trường ảnh này trước khi chụp. Trên đây là một số kinh nghiệm khá hữu ích liên quan đến bàn tay trái, hy vọng có thể giúp bạn nhiều trong việc chụp ảnh. Van.vn (Theo hocvieneos)

Các tính năng trên DSLR bị bỏ sót

Bài viết này sẽ giới thiệu những tính năng được tích hợp trên đa phần những chiếc DSLR nhưng ít người dùng chú ý tới. Đâu là lý do chúng ta chia tay những chiếc máy Point-and-Shoot gọn nhẹ, cực thích hợp cho những bức ảnh lưu niệm, để chuyển sang sử dụng những chiếc máy ảnh DSLR vốn cồng kềnh và (thường) đắt tiền hơn rất nhiều? Đó là chất lượng hình ảnh tuyệt vời mà những cảm biến đa phần là rất nhỏ trên những mẫu máy di lịch không thể tạo nên được, dù có kỹ thuật chụp tốt đến đâu, và trên hết, là khả năng tùy chỉnh những thông số để cho ra những bức ảnh như mong muốn (xin lưu ý là đừng nhầm lẫn khái niệm “như mong muốn” với “đẹp”). Thực sự, sử dụng một chiếc DSLR có rất nhiều ưu điểm so với những chiếc máy du lịch. Tuy nhiên, với những người dùng ít kinh nghiệm, hoặc đơn giản là quá quan tâm vào việc chụp mà không để tâm tới tìm hiểu hết những tính năng trên chiếc máy của mình, thì vẫn còn đó những công cụ tiện dụng mà nhà sản xuất đã tạo ra để hỗ trợ nhưng họ chưa từng biết tới. Bài viết này sẽ giới thiệu những tính năng được tích hợp trên đa phần những chiếc DSLR nhưng ít người dùng chú ý tới. Lưu ý: bài viết này cần một số hiểu biết ở mức cơ bản về máy ảnh số, và cũng chống chỉ định với những người dùng đã nắm rõ toàn bộ những quyển Manual của các máy DSLR –LOL. Program Mode (P) Với đa phần DSLR, chế độ này ký hiệu bởi chữ P trên vòng chỉnh chế độ Giải thích Chế độ này là chế độ “lai” giữa chế độ chỉnh tay hoàn toàn (Manual) và tự động hoàn toàn (Auto). Nó giống với chế độ tự động ở chỗ bạn không cần phải lo lắng về độ phơi sáng của bức ảnh, máy sẽ tự động tính toán để cho ra tấm ảnh đủ sáng (hiểu theo nghĩa là 0Ev). Ở chế độ này, bạn không cần cài đặt tốc độ màn trập, khẩu độ hay iso, nên nó phù hợp với những người chụp mới sử dụng máy ảnh DSLR nhưng đã “chán” với chế độ tự động hoạt động không khác gì những chiếc camera Poin-and-Shoot. Tất nhiên, chế độ này khác không quá nhiều so với chế độ Auto, nhưng ít nhất bạn vẫn có thể tùy chọn việc sử dụng/không sử dụng flash, bạn có thể đặt mức iso phù hợp mục đích chụp (chụp nhanh/chụp phơi sáng), cũng có thể đặt lại chế độ cân bằng trắng, và chỉnh mức phơi sáng phù hợp (với những điều kiện ánh sáng phức tạp, máy ảnh dễ tính toán sai mức độ phơi sáng). Có trên những loại máy nào? Tất cả các loại máy ảnh đều có chế độ này. Cách sử dụng Xoay núm vòng chỉnh chế độ trên máy ảnh sang ký tự P. Đôi khi hình vẽ hoặc ký tự sẽ khác đi, nhưng có lẽ phải 99% loại máy ảnh đều đặt chế độ này là chữ P. Với chế độ này bạn có thể tự thiết lập các giá trị như đã được đề cập ở trên. Custom Functions (phím C1,C2,… trên vòng quay chế độ) Giải thích Bạn có thể hiểu custom function như những phím tắt trên máy ảnh của bạn. Hầu hết các loại máy ảnh đều có tính năng này đều cung cấp 1 hoặc 3 “phím tắt” như vậy. Nhiều mẫu máy trung và cao cấp có hỗ trợ chức năng này Custom funtion cho phép bật/tắt khả năng khử nhiễu, setup các thông số trong quá trình chụp, gán các chức năng cho 1 số nút trên máy cũng như cho các chế độ trên vòng chỉnh chế độ,… Tính năng này giúp bạn không cần thay đổi những thiết lập của mình mỗi lần chụp, mà chỉ đơn thuần là lựa chọn qua lại các bộ thông số đã thiết lập sẵn cho từng trường hợp bằng việc sử dụng những chế độ tương ứng trên vòng chỉnh chế độ. Có trên những loại máy nào? Những dòng máy cao cấp của Canon như 7D, 5D, hay những dòng trung cấp như 40D, 50D (hơi khó hiểu về việc Canon loại bỏ chúng khỏi những chiếc 60D hay 70D, chỉ để lại 1 chế độ có chức năng tương tự). Những dòng máy của các hãng khác cũng có tính năng tương tự như thế này, nhưng với tên gọi và cách ký hiệu có thể khác đôi chút. Cách sử dụng Những máy ảnh Canon có thể thiết lập thông số cho các chế độ này trong Menu của máy. Chi tiết bạn có thể xem trong quyển hướng dẫn sử dụng đi kèm máy. Sau khi đã thiết lập, bạn có thể dễ dàng chuyển giữa các chế độ bằng cách xoay núm chế độ chụp về đúng mode tương ứng. Nút xem trước Depth of Field (độ sâu trường ảnh) Giải thích Khi bạn nhìn qua viewfinder, khung hình mà bạn nhìn thấy qua ống ngắm là sự ước lượng về bức ảnh mà bạn sẽ thu được sau khi bấm máy. Tuy nhiên nó vẫn chưa thực sự chính xác giống như những gì thực sự thu được, đặc biệt là về độ sâu trường ảnh. Có rất nhiều thông số ảnh hưởng tới tham số này (như xích độ, khẩu độ, tiêu cự ống kính, thiết đặt của máy ảnh,…), có thể bạn còn chưa nắm rõ và chưa làm chủ được các tham số này, và đó là lý do mà nhà sản xuất luôn luôn trang bị tính năng này trên tất cả các sản phẩm DSLR. Vị trí của nút DOF Preview trên máy ảnh khiến nhiều người bỏ quên nó Khi sử dụng nút này, thứ mà bạn nhìn thấy qua ống ngắm chính là một hình ảnh gần như chính xác hình ảnh mà bạn thu được sau khi bấm máy, cả về độ phơi sáng cũng như độ sâu trường ảnh. Sử dụng nút này là một điều bắt buộc nếu bạn sử dụng các lens có khẩu độ lớn để chụp chân dung, hay khi chụp macro cần khống chế độ sâu trường ảnh cực kỳ cẩn thận. Có trên những loại máy nào? Đa phần tất cả những mẫu DSLR đều trang bị phím chức năng này. Đa phần người dùng nghiệp dư hoặc chụp ảnh lưu niệm sẽ không để ý tới nút này, vì nó nằm ở mặt trước máy, một trong những điểm mà người dùng ít chú ý nhất khi sử dụng máy. Cách sử dụng Cách sử dụng tính năng hữu ích này rất đơn giản: bấm nút này trong khi bạn đang ngắm qua viewfinder, và bạn sẽ thấy sự thay đổi so với khi không sử dụng chức năng. Picture Styles Picture Style được trang bị trên hầu hết các dòng máy ảnh (kể cả máy du lịch) Giải thích Chắc chắn chẳng ai trong chúng ta không biết Instagram hay những chương trình tương tự như nó, với những bộ lọc cho ra những hình ảnh “mì ăn liền” ấn tượng. DSLR, những chiếc máy chú trọng vào khả năng tạo ra những hình ảnh chân thực, thường không hoặc có nhưng ít những hiệu ứng kiểu “ảo diệu” như thế này. Tuy nhiên, những máy ảnh hiện nay đều cho phép thiết lập một vài thông số áp đặt lên ảnh qua bộ xử lý hình ảnh trên máy. Lẽ dĩ nhiên, những thông số này cho phép người dùng tinh chỉnh và tùy vào mục đích và hoàn cảnh để sử dụng cho phù hợp. Nó không tạo ra được những bức ảnh “ma mị” như kiểu Instagram, nhưng cũng có ảnh hưởng nhất định tới các thông số như độ sắc nét, độ bão hòa màu, độ tương phản,… của bức ảnh. Nó cũng giúp biến máy ảnh của bạn thành một máy ảnh chụp hình đơn sắc rất tốt mà không cần qua xử lý trên máy tính (bằng cách hạ mức bão hòa màu cũng như tinh chỉnh độ tương phản). Có nhiều bộ thông số như vậy được thiết lập sẵn (hoặc cho phép người dùng đặt lại), và được gọi chung là Picture Styles. Có trên những loại máy nào? Hầu như mọi máy DSLR nếu không cũ quá thì đều được trang bị chức năng này, thậm chí cả những chiếc máy không gương lật nhỏ gọn cũng được trang bị tính năng này. Nó được đặt dưới nhiều cái tên tùy mục đích thương mại của nhà sản xuất, nhưng bạn sẽ không quá khó khăn để tìm được nơi hiệu chỉnh các thông số này. Ngay cả với những chiếc máy “cổ lỗ sỹ”, bạn cũng vẫn có thể chỉnh được các thông số này, tuy nhiên chúng chưa được gom thành các bộ tham số để tùy chọn qua lại dễ dàng. Cách sử dụng Sử dụng tính năng này rất dễ dàng, bạn chỉ cần tìm đến nó trong menu setting của máy ảnh, rồi tinh chỉnh tăng giảm các thông số về độ nét, độ bão hòa màu,… theo ý mình, hoặc lựa chọn theo các bộ chỉ số được thiết lập sẵn cho các loại hình ảnh khác nhau (chân dung, phong cảnh, đơn sắc,….). Các máy ảnh mới ngày nay hầu như đều có một nút chức năng riêng trên thân máy để chuyển nhanh đến chế độ này. Back Button Focus Giải thích Chắc chắn ai dùng thiết bị chụp ảnh nào (kể cả điện thoại), đều biết rằng khi nhấn và giữ 1 nửa nút chụp, máy ảnh sẽ tự động lấy nét. Đa phần chúng ta chờ cho máy lấy đúng nét rồi bấm nốt nửa nút chụp để chụp. Bố cục sẽ được chỉnh sửa khi về nhà crop lại ảnh sau. Tuy nhiên, với những người bấm máy chuyên nghiệp, việc xử lý hậu kỳ rất vất vả, và họ luôn cố gắng để có những bức hình tốt nhất ngay khi chụp xong, thì họ sẽ sử dụng cơ chế khóa nét/khóa sáng ngay khi cần có một bố cục tốt. Nút khóa nét/sáng chính là tính năng mà nhà sản xuất trang bị để hướng đến những người dùng có kinh nghiệm như vậy. Vị trí của nút Back Button Focus trên máy ảnh Canon Có thể bạn vẫn chưa tưởng tượng khi nào cần cơ chế khóa nét này. Vậy hãy hình dung khi đang lấy nét vào mẫu đứng ở xa, bỗng dưng có đối tượng đi vào khung hình, hoặc mẫu di chuyển , nó sẽ khiến máy phải tiến hành lấy nét lại (đặc biệt dễ xảy ra khi để cơ chế lấy nét tự động chọn điểm lấy nét). Những người dùng những lens lấy nét chậm như kiểu 50 1.8 của Canon sẽ hiểu rõ nỗi “khổ sở” khi việc lấy nét rất cực nhọc, nhất là trong điều kiện ánh sáng yếu (kể cả khi có đèn hỗ trợ). Sử dụng tốt nút khóa nét/sáng sẽ hạn chế được tình trạng “rụt rè” của những ống lấy nét chậm. Ở trường hợp khác, bạn muốn giữ bố cục 1/3 nhưng điểm lấy nét phù hợp vào mẫu thì không đủ mạnh (giả sử không phải điểm cross type). Kinh nghiệm xử lý? Lấy nét bằng điểm cross type ở tâm, sau đó giữ nút khóa nét, bố cục lại khung hình rồi chụp. Có thể giảm khẩu một chút để ảnh không bị soft. Nút này có thể thay cho 2 nút: nút khóa sáng trên body (AE-Lock – nút này các máy dòng entry của Canon không được trang bị) và nút gạt AF/MF trên ống kính. Nói như vậy bạn có thẻ thấy tầm quan trọng và tiện dụng của nút bấm nhỏ bé này. Máy nào được trang bị? Gần như mọi máy Canon đều được trang bị tính năng này, đơn giản vì Canon chính là hãng sáng tạo ra nó – LOL. Nhiều máy Nikon cũng có tính năng tương tự nhưng ở tên gọi khác nhưng phải gán cho một nút cố định thông qua một tinh chỉnh trong menu thiết lập. Các nhà sản xuất khác thì thú thực người viết cũng không nắm rõ. Cách sử dụng Cho dù máy ảnh của bạn có trang bị 1 nút dành riêng cho chức năng này hay bạn phải đặt cho 1 nút nào đó, bạn cũng sẽ cần tinh chỉnh một chút để chức năng này hoạt động đúng theo ý mình. Dưới đây là vị trí đối với từng dòng máy của Canon: EOS Rebel T3 (1100D): C.Fn 7 (option 1 or 3) EOS Rebel T3i (600D): C.Fn 9 (option 1 or 3) EOS Rebel T4i (650D): C.Fn 6 (option 1 or 3) EOS 60D: C.Fn IV-1 (option 1, 2, 3, or 4) EOS 7D: C.Fn IV-1 (Custom Controls — Shutter, AF-ON, AEL buttons) EOS 6D: C.Fn III-5 (Custom Controls — Shutter, AF-ON, AEL buttons) EOS 5D Mark II: C.Fn IV-1 (option 2 or 3) EOS 5D Mark III: C.Fn menu screen 2 (Custom Controls — Shutter, AF-ON, AEL buttons) EOS-1D X: C.Fn menu screen 5 (Custom Controls — Shutter, AF-ON, AEL buttons) Với các loại máy ảnh khác, bạn có thể tham khảo thêm trong hướng dẫn sử dụng đi kèm máy. Custom Firmware Giải thích Những bản firmware tùy biến là điều rất quen thuộc trên các thiết bị như máy tính bảng hay điện thoại thông mình. Tuy nhiên camera giống một thiết bị “đóng” hơn, và hầu như không nhà sản xuất nào mặn mà với ý định hỗ trợ người dùng tùy biến phần mềm điều khiển cho những chiếc máy của mình, bởi đơn giản điều đó có thể ảnh hưởng đến doanh thu của họ. Do đó, rất ít những bản ROM tùy biến được xây dựng cho các dòng máy ảnh, nhưng cũng không hẳn là không có. Green Lantern là custom firmware nổi tiếng nhất trên các máy Canon Lưu ý, việc làm này sẽ bổ sung thêm nhiều tính năng thú vị cho máy của bạn, nhưng đồng thời nó cũng làm mất bảo hành. Hãy suy nghĩ và đọc kỹ hướng dẫn trước khi thực hiện. Máy nào được trang bị? Như đã nói ở trên, do không được nhà sản xuất hỗ trợ, nên số lượng máy được trang bị firmware tùy biến không nhiều và tập trung vào những mẫu máy có doanh số lớn nhất của Canon, Nikon vàPanasonic. Chi tiết về các mẫu máy được hỗ trợ và các bước thực hiện các bạn có thể xem thêm tại internet Cách sử dụng Cách làm tùy thuộc vào từng mẫu máy, và trong đường link đã nêu ở trên đã nêu rõ chi tiết cách thức thực hiện, cũng như những lưu ý trong quá trình làm. Trong đa phần trường hợp, các firmware tùy biến này sẽ được cài đè lên phiên bản của nhà sản xuất, tuy nhiên với Magic Lantern (firmware rất nổi tiếng trên hệ máy Canon) thì nó chỉ chạy tạm thời (an toàn hơn, nhưng sẽ không có ý nghĩa lắm nếu bạn muốn sử dụng thường xuyên). Tóm lại, hãy “đọc kỹ hướng dẫn trước khi sử dụng”.   Tác giả bài viết: Thanh Hải

Cách lấy nét AF

Cách lấy nét AF Sử dụng chế độ lấy nét tự động (autofocus) là một việc thông thường nhất cho mọi người cầm máy ảnh. Nhưng, với người mới cầm máy, hoặc với người mới có một máy mới, và có thể kể cả người từng chụp lâu năm, việc lấy nét chưa bao giờ là việc đơn giản, cho tất cả cơ chế lấy nét.  Có thể bạn nghĩ, chỉ cần sử dụng cơ chế full auto (hoàn toàn tự động), từ ảnh phong cảnh đến chân dung, máy ảnh tự làm hết, quá dễ dàng. Vậy, tại sao có nhiều bức ảnh không đủ nét? Chẳng hạn con mắt trong bức ảnh chân dung, hay ngôi nhà trên ngọn đồi? Vấn đề liên quan đến việc hiểu và sử dụng đúng hệ thống lấy nét tự động. Các bạn quan sát các điểm nét trong hình, máy ảnh DSLR có một điểm nét ở giữa trung tâm và các điểm xung quanh trong khung hình. Thường thì gồm 9 điểm, cao cấp hơn thì nhiều điểm nét hơn, có máy 61 điểm nét. Về cơ bản, bạn sẽ làm chủ các điểm nét này. Nếu bạn chọn một đối tượng gần nhất trong khung ảnh trùng với điểm nét AF (auto-focus) và nếu bạn không muốn lấy nét bãi cỏ phía trước mà nét sâu hơn trong một khung ảnh, thì hai trường hợp này hoàn toàn rất khác nhau liên quan đến AF. Tự động chọn Máy ảnh mặc định là tự động sử dụng hết các điểm AF trong các chế độ chụp. Chọn chế độ này, bạn bấm nút AF ở mặt sau máy ảnh (có thể vị trí các model khác nhau), màn hình các điểm nét hiển thị xác nhận AF đa điểm tự động. Khi bạn muốn lấy nét vào đối tượng gần nhất trong khung và khoảnh khắc có thể qua đi, AF tự động chọn là giải pháp tốt nhất, tránh tình trạng loay hoay với thiết bị mà khoảnh khắc vụt qua. Chọn bằng tay Bấm AF, rồi bấm Set, máy ảnh hiển thị chế độ tuỳ chọn từ tự động lấy nét đa điểm sang lấy nét trung tâm, lấy nét điểm. Bấm Set lần nữa nếu muốn trở lại lấy nét tự động đa điểm. AF trung tâm điểm là lấy nét chính xác và hoàn hảo khi đối tượng chính cần nhấn mạnh nằm ở vùng trung tâm khung hình. AF điểm, là tuỳ chọn hầu hết cho mọi người khi chụp chân dung, nhưng trong phong cảnh, bạn có thể lấy nét hậu cảnh để mờ tiền cảnh hay ngược lại... thì cũng chọn cách lấy nét AF điểm này. Các điểm nét chéo, lệnh vùng trung tâm, khi chọn AF điểm là các điểm nét thường xuyên cho chụp chân dung. Các điểm chéo gần vùng mắt đối tượng. Các điểm AF bìa trái và phải thường dùng khi cần lấy nét vào một đối tượng xa trong khung, lấy nét điểm vào đối tượng ở một bên, trái hoặc phải. Bạn có thể khoá AF bằng cách giữ nút chụp. Chẳng hạn bạn lấy nét vào đôi mắt, nhưng nếu bấm luôn thì khung ảnh có bố cục không đẹp, bạn khoá AF bằng cách giữ nguyên nửa nút chụp, dịch chuyển khung máy bố cục lại theo ý rồi bấm máy chụp. Dĩ nhiên, bạn phải tính được ánh sáng tại điểm lấy nét cho hài hoà, bởi vì vị trí máy đo sáng điểm trùng với điểm bạn khoá AF. Ví dụ, bạn lấy nét và khoá nét ở một điểm rất sáng, sau đó bố cục khung ảnh bấm máy, hình ảnh chắc chắn sẽ dư sáng. Nên phải tính toán khi sử dụng cách này. Dịch chuyển điểm nét Ở chế độ lấy nét điểm chọn bằng tay, bạn có thể di chuyển điểm nét từ điểm này sang điểm khác, bằng cách bấm các nút mũi tên 4 chiều. Để trở lại AF trung tâm, nhấn Set lần nữa. Chọn chế độ AF Việc lấy nét AF thường có 3 cơ chế: One Shot là máy sẽ chọn vài điểm nét chọn lọc với từng tấm ảnh, AI Focus AF khi muốn bắt nét các đối tượng bất thường xuất hiện, AI Servo AF để lấy nét theo chủ đề di chuyển. Trên Nikon là AF-C. Thích hợp chụp thể thao, em bé, xe đua, động vật hoang dã... và mọi đối tượng di động khác. Nguồn: Tinhte

10 cách để tiến bộ trong việc chụp ảnh

Lang thang trên mạng thông tin về nhiếp ảnh, tôi bất ngờ tìm được một bài viết hay của Christina N Dickson - Nhiếp ảnh gia người Phần Lan. Bài viết khá cơ bản nhưng lại có đủ các yếu tố cần thiết cho các bạn chụp ảnh, kể cả cựu hay tân. Sau đây xin mời bạn đón đọc 10 cách sau.    1) Tìm nguồn cảm hứng Một họa sĩ đã nói rằng: "Cảm hứng chính là linh hồn của các tác phẩm nghệ thuật". Câu nói này hoàn toàn đúng. Tôi không thể đếm trên đầu ngón tay những lần tôi cố chụp thêm nhiều bức ảnh chỉ vì bỗng nhiên tôi thấy ánh sáng thật đẹp và nó gợi cho tôi cảm hứng để chụp thêm, hoặc những lần tôi trằn trọc giữa đêm vì tự nhiên cảm hứng chợt đến sau khi tôi nhớ lại các chi tiết trong một bộ film tôi vừa xem. Cảm hứng là một thứ vô hình nhưng có sức mạnh rất lớn, nó không chỉ giúp chúng ta tạo nên các tác phẩm nghệ thuật mà còn khiến chúng ta có thể quên đi mệt mỏi kể cả khi phải làm việc hơn khả năng có thể.     Thật may là trong thời đại công nghệ hiện nay, chúng ta hoàn toàn có thể tìm được nguồn cảm hứng từ khắp mọi nơi trên thế giới và nhiều lúc nó thật là đáng giá khi ta đang bị bí ý tưởng. Các site như kiểu Pinterest, 500px hoặc Flickr là những địa chỉ thú vị có thể giúp bạn tìm thấy nhiều thứ hay ho để thúc đẩy công việc của bạn. Đặc biệt là Pinterest, nó là nơi mà chứa đủ thứ linh tinh, tuy nhiên nếu bạn có một chút kiên trì thì bạn sẽ tìm thấy cảm hứng sớm thôi.    2) Hãy tự tìm ra lí do và theo đuổi nó   Sẽ là một cảm giác thật tuyệt cũng như là sự tưởng thưởng cho bản thân khi chính những bức ảnh của bạn đang hỗ trợ vào những thứ bạn đặt niềm tin. Bạn có thể đào sâu vào cách này bằng cách là hãy móc nối với các tổ chức phi lợi nhuận, họ thường sẽ tìm kiếm những người chụp ảnh để hỗ trợ các hoạt động của họ. Làm việc kiểu này sẽ giúp bạn tăng thêm kinh nghiệm, hiểu biết trong công việc và với một thợ ảnh thì làm việc trong một môi trường nghiêm túc sẽ đòi hỏi họ phát triển lên rất nhiều.   3) Đừng vội vàng và hãy dành thời gian để phát triển   Rất nhiều người chụp ảnh đều nói rằng không khó để chụp ra một bức ảnh. Nhưng nếu chụp hàng loạt những bức ảnh thường thường như vậy thì bạn cũng ko thể tăng được khả năng chụp ảnh của mình. Hãy dành thời gian nghiên cứu sâu hơn, tìm tòi những điều mới lạ và áp dụng vào các lần chụp khác mà bạn được cho phép sáng tạo. Hãy thử đặt ra cho bản thân những thử thách kiểu mỗi ngày, một bức ảnh, một chủ đề. Đây là một cách hay ho và thú vị để tăng sự sáng tạo và cách nhìn mọi thứ của bạn.   4) Tìm những nguồn tài liệu   Có một câu tục ngữ nói rằng:   "Dưới ánh mặt trời thì chả có gì mới cả."   Tuy nhiên trong lĩnh vực nghệ thuật, khi nguồn cảm hứng và ước muốn đổi mới gặp nhau thì mọi thứ đều có thể xảy ra.  Nó không phải là bạn đang phát minh ra những điều gì  quá mới lạ, đơn giản chỉ là tìm ra  những quan điểm mới về ảnh, việc này cũng sẽ đóng vai trò quan trọng trong sự tiến bộ của người chụp ảnh. Có một cách để bạn tiếp nhân thêm những quan đểm nghệ thuật mới mẻ đó chính là hãy thường xuyên ghé các gallery tranh ảnh hoặc các buổi triển lãm ảnh. Có thể bạn sẽ tìm thấy những góc nhìn của các nghệ sĩ khác. 5) Đi tìm tình yêu   Điều gì mang đến cho bạn niềm vui thú thì đó là những thứ để giúp bạn chụp ra những bức ảnh đẹp. Nếu bạn thực sự yêu thứ gì thì bạn sẽ chả bao giờ cảm thấy chán nó cả. Nó luôn tươi mới và những quan điểm, góc nhìn mới luôn tới. Trở lại với những thứ yêu thích luôn giúp bạn tăng thêm cả sự sáng tạo và thật tuyệt khi nó chính là yếu tố then chốt trong việc chụp ảnh.   6) Hãy tìm những cộng đồng người chơi ảnh   Học hỏi lẫn nhau trong sáng tạo là một nguồn lực tuyệt vời để phát triển nghệ thuật nói chung. Hãy tìm một cộng đồng nhiếp ảnh - hoặc tạo ra một nhóm của chính mình. Nó sẽ giúp bạn có được sự hợp tác, kiến thức, tình bạn và cả những điều vui vẻ khác nữa. Và thật may mắn khi Vui Học Nhiếp Ảnh chính là một trang mà bạn có thể tìm thấy đầy đủ những điều kể trên. 7) Hãy tìm những điểm quan sát mới   Nhiều người trong chúng ta đã nghe câu ngạn ngữ xưa:   "Nếu bạn luôn luôn làm những gì bạn luôn làm thì bạn sẽ luôn luôn có được những gì bạn luôn nhận được"   Điều này không hoàn toàn đúng trong bộ môn đòi hỏi sáng tạo nhiều như nhiếp ảnh. Hãy dám làm liều, hãy thử những ý tưởng mới. Trong nghệ thuật thì đừng bao giờ đặt mình trong một chiếc hộp an toàn  - Hãy thử bước ở bên ngoài vùng an toàn của bạn. Hãy thử quên các khái niệm, mảng miếng, chỉnh sửa. Có thể bạn sẽ rất ngạc nhiên bởi những gì mới phát hiện ra và có thể nó cũng sẽ phát triển một tình yêu mới trong bạn.   8) Hãy tìm những nhiếp ảnh gia có kinh nghiệm trong khu vực của bạn    "Đi một ngày đàng, học một sàng khôn"   Từ xưa chúng ta đã nghe đến câu này và nó luôn đúng. Hãy thử đi tìm hiểu và trải nghiệm, học hỏi từ những người có kinh nghiệm với nhiếp ảnh. Nếu bạn có ý định nghiêm túc trong bộ môn nhiếp ảnh, hãy đừng ngại ngần tìm những thông tin liên lạc của các nhiếp ảnh gia nổi tiếng. Đừng ngại phải liên lạc và xin họ cho lời khuyên, hoặc thậm chí là xin đi theo chụp cùng để tăng thêm kinh nghiệm. Kinh nghiệm thực tế là một điều vô cùng thiết yếu, và chỉ có ở những người đã có thâm niên.   9) Hãy tìm những lời phê bình trung thực   Thật khó để phê phán công việc của chính mình - đằng sau khi tất cả, bạn biết cốt truyện, bạn có thành kiến với những lý do tại sao bạn đã chụp bức ảnh này v.v.v.   Trong quá khứ chúng tôi đã khám phá một số cách để phê phán công việc của chính mình, nhưng đôi khi chúng ta cần những lời phê bình tích cực và mạnh mẽ từ những người khác. Nếu bạn đã xây dựng một cộng đồng nhiếp ảnh, hoặc biết một người nào đó có thâm niên, hãy thử đưa những bức ảnh của bạn lên và lắng nghe lời phê bình của họ. Việc tiếp thu lời phê bình sẽ giúp cho bạn hiểu thêm về mọi lĩnh vực trong nhiếp ảnh.   10) Phát triển SWOT    Nếu bạn thực sự muốn đầu tư phát triển như một nhiếp ảnh gia, tiến hành phân tích SWOT của chính mình. SWOT là :   Điểm mạnh (Strength) Điểm yếu (Weakness)  Cơ hội (Opportunities) Các trở ngại hay gặp phải(Threat).  Hãy trung thực và khách quan khi bạn phân tích, động não và sau đó lập một kế hoạch để tối đa hóa và phát triển mỗi lĩnh vực.

Tự tạo hình dạng bokeh trong ảnh chụp theo sở thích

Ngoài việc sử dụng một ống kính có độ mở lớn, bạn cần cắt tỉa hình dạng bokeh sao cho có đường kính nhỏ hơn giá trị chiều dài tiêu cự chia cho trị số khẩu độ. Bokeh (từ tiếng Nhật) là một thuật ngữ được dùng trong nhiếp ảnh để chỉ chất lượng và hình thù của những vùng ảnh mờ nhòe ngoài vùng lấy nét. Bokeh hình trái tim được tạo ra từ việc sử dụng một tấm bìa đen che trước ống kính 50 mm/f1.8 có cắt hình trái tim ở giữa. Ảnh: diyphotography. Có nhiều cách tạo hiệu ứng Bokeh cho ảnh chụp như sử dụng phần mềm Photoshop, sử dụng phông nền khác nhau khi chụp ảnh hay dựa vào các yếu tố kỹ thuật khác nhau của ống kính (cấu tạo thấu kính, số lượng lá khẩu), tự tạo Bokeh theo những hình mẫu sáng tạo bằng việc sử dụng một nắp che đặt trước ống kính máy ảnh có khoét sẵn những hình ảnh mong muốn. Trong số những phương pháp trên, bài viết chỉ đề cập đến cách tạo bokeh bằng những hình mẫu như trái tim, ngôi sao hay một hình ảnh bất kỳ do tính sáng tạo cao và không quá khó. Tuy vậy, để có thể tạo ra những hiệu ứng bokeh lung linh từ những hình mẫu sáng tạo này bạn cần nắm rõ một số nguyên tắc cơ bản sau. Ống kính phù hợp Để có thể tạo một hình dạng bokeh yêu thích cho ảnh chụp, trước hết bạn cần cắt một tấm bìa đen có kích thước bằng với đường kính của ống kính, sau đó khoét ngay chính giữa một hình dạng mong muốn như hình trái tim, ngôi sao….như hình bên dưới. Với cách làm này, chúng ta sẽ tạo ra một giá trị khẩu độ mới nhỏ hơn thay cho độ mở mặc định của ống kính đang sử dụng. Cơ bản, bạn có thể sử dụng gần như mọi loại ống kính để tạo ra những hiệu ứng bokeh mong muốn. Song, những ống kính có độ mở lớn (f1.8 hay thậm chí f1.4) với chiều dài tiêu cự từ 50 mm trở lên là những lựa chọn ưu tiên hàng đầu. Vì những model ống kính có độ mở tối đa hạn chế (f3.5 hoặc lớn hơn), việc cắt hình mẫu bokeh mong muốn sẽ khó thực hiện hơn (do kích thước ngày càng nhỏ) và thao tác lấy nét đối tượng cần chụp cũng không còn đơn giản nữa. Một khi đã lựa chọn được một ống kính phù hợp, điều đáng quan tâm ở đây chính là kích thước của hình dạng Bokeh mà bạn dự định tạo ra. Kích thước của hình mẫu bokeh (đường kính của khẩu độ mới) Cách đơn giản để có thể tính đường kính của khẩu độ mới chính là lấy chiều dài tiêu cự chia cho trị số f nhỏ nhất (đối với ống một khẩu). Cụ thể, nếu sử dụng ống 50mm/f1.8, ta sẽ có giá trị đường kính thực sự của độ mở ống kính tối đa là 27,7 mm. Tương tự với ống kính tiêu cự 100mm, khẩu độ f2, ta sẽ có giá trị đường kính thật của khẩu độ sẽ là 50 mm. Ảnh chụp thử bokeh hình ngôi sao 4 cánh bằng ống kính tiêu cự 18-55 mm/f3.5-5.6 ở tiêu cự 50 mm, f5.6. Một khi đã có được kích thước độ mở thật của ống kính, lúc này bạn vẽ một vòng tròn đồng tâm (trên tấm bìa đen ban đầu) có kích thước nhỏ hơn giá trị vừa tính được. Sau đó, tiếp tục vẽ hình ngôi sao hay trái tim nội tiếp đường tròn nhỏ này rồi cắt bỏ đi phần bên trong để chừa chỗ cho ánh sáng đi qua ống kính là xong. Ngoài việc tính kích thước của hình dạng bokeh mới, bạn cũng cần lưu ý cắt tỉa hình dạng bokeh mong muốn sao cho thật sắc nét để có kết quả ưng ý. Có thể sử dụng chế độ Manual hay Av và thiết lập giá trị khẩu độ nhỏ nhất (f1.8 hay nhỏ hơn nếu có thể). Khi chụp, khoảng cách giữa máy và chủ thể nên thu hẹp tối đa (trong phạm vi lấy nét cho phép của ống kính), nhưng khoảng cách giữa chủ thể đến phông nền càng xa hình dạng bokeh càng đẹp hơn. Lâm Vũ